14:54 | 12/03/2018

Diễn biến thị trường toàn cầu ngày 12/3/2018

Chứng khoán châu Á tăng điểm khi nối lo về cuộc chiến thương mại đã nhường chỗ sự lạc quan về triển vọng kinh tế toàn cầu sau Báo cáo việc làm tháng 2 tại Mỹ cho thấy nền kinh tế lớn nhất thế giới tiếp tục mạnh lên mà không có nỗi lo về lạm phát.

Chỉ số MSCI châu Á - Thái Bình Dương tăng với việc các thị trường chứng khoán từ Tokyo đến Sydney đều cao hơn, đặc biệt Chỉ số Topix có mức tăng lớn nhất trong 3 tuần. Chỉ số S&P 500 cũng tăng mạnh trong phiên thứ Sáu tuần trước và chỉ số Nasdaq Composite tăng lên mức cao kỷ lục mới sau khi tăng trưởng việc làm tại Mỹ mạnh hơn nhiều so với dự báo.

Các chỉ số kinh tế mạnh mẽ cảng củng cố thêm cho kỳ vọng Fed sẽ tăng lãi suất và tạo động lực mới cho thị trường chứng khoán toàn cầu. Hàng loạt dữ liệu kinh tế của Trung Quốc sẽ được công bố trong tuần này và các dữ liệu về lạm phát và doanh số bán lẻ ở Mỹ có thể cung cấp cái nhìn sâu hơn về sức mạnh của tăng trưởng toàn cầu.

“Khách hàng của chúng tôi vẫn lạc quan”, Chris Brankin - Tổng giám đốc của TD Ameritrade Singapore nói với Bloomberg TV. “Bạn đã thấy báo cáo việc làm vào thứ Sáu, đó là một kịch bản hoàn hảo – khi tiền lương tiếp tục tăng, nhưng không quá nhiều. Các nhà đầu tư đã có cơ hội mua vào thị trường giảm và chúng tôi cho rằng thị trường sẽ tiếp tục tăng”.

Sự ưa chuộng tài sản rủi ro đã được đẩy mạnh vào cuối tuần trước khi Tổng thống Mỹ Donald Trump chấp nhận lời mời gặp lãnh đạo Kim Jong Un của Bắc Triều Tiên và mức thuế nhập khẩu thấp hơn dự kiến ​​từ Nhà Trắng đã làm giảm nguy cơ của một cuộc chiến thương mại.

Tại Nhật, cuộc tranh luận đang nổi lên xung quanh tương lai chính trị của Bộ trưởng Tài chính Taro Aso, sau khi bộ của ông thay đổi các văn bản gắn liền với một vụ bán đất gây tranh cãi. Aso là người ủng hộ chính của chương trình Abenomics. Trong cuộc họp báo diễn ra hôm thứ Hai, Aso đã từ chối bình luận về trách nhiệm của mình, nhưng ông nói rằng không nghĩ đến việc từ chức.

Những thông tin đáng chú ý trong tuần này:

- Dữ liệu về sản xuất công nghiệp, doanh số bán lẻ và đầu tư tài sản cố định ở Trung Quốc có thể sẽ chỉ ra sự tăng trưởng chậm lại, theo dự báo của Bloomberg Economics. Cụ thể, doanh số bán lẻ có thể tăng 10% so với năm trước, trong khi tăng trưởng sản xuất công nghiệp dự kiến ​​sẽ chậm lại ở mức 6,2%.
- Các chỉ số kinh tế chính cho chương trình nghị sự của Fed cũng sẽ được công bố trong tuần. Theo đó, lạm phát có thể sẽ tăng lên 2,2% trong tháng hai từ 2,1% của tháng 1, mặc dù sự đồng thuận trước khi báo cáo được công bố vào thứ Ba cho thấy lạm phát cơ bản vẫn ở mức 1,8%. Các số liệu kinh tế chính khác bao gồm doanh số bán lẻ vào thứ Tư, dự kiến ​​sẽ có sự phục hồi đáng kể từ sự suy giảm do thời tiết trong tháng 1.
- Số liệu về GDP của New Zealand sẽ có vào thứ Năm.

Một số diễn biến chính trên thị trường:

Cổ phiếu:
- Chỉ số Topix đóng cửa tăng 1,5%; chỉ số Nikkei 225 Stock Average tăng 1,7%.
- Chỉ số S&P/ASX 200 của Úc tăng 0,6%.
- Chỉ số Kospi ở Seoul đã tăng 1%.
- Chỉ số Hang Seng của Hồng Kông tăng 1,5%; chỉ số Shanghai Composite tăng 0,6%.
- Hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 tăng 0,4%; chỉ số cơ bản tăng 1,7% trong phiên thứ Sáu tuần trước.
- Chỉ số MSCI châu Á - Thái Bình Dương tăng 1,5%.

Tiền tệ:
- Chỉ số Bloomberg Dollar Spot giảm 0,1%.
- Đồng yên tăng 0,2% lên 106,64 JPY/USD.
- Đôla Úc đã tăng 0,4% lên 78,71 cent Mỹ, mức cao nhất trong khoảng 2 tuần, sau khi Úc được miễn thuế quan của Hoa Kỳ.
- Đồng euro tăng 0,1% lên 1,2319 USD.
- Đồng bảng ít thay đổi ở mức 1,3858 USD.

Trái phiếu:
- Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm tăng gần 1 điểm cơ bản lên 2,90%, mở rộng mức tăng 4 điểm cơ bản vào thứ Sáu.
- Lợi suất trái phiếu 10 năm của Úc tăng khoảng 4 điểm cơ bản lên 2,82%.

Hàng hóa:
- Giá dầu thô WTI ít thay đổi ở mức 62,05 USD/thùng. Nó đã tăng 3,2% vào thứ Sáu tuần trước.
- Giá vàng giảm 0,1% xuống còn 1.322,39 USD/oz.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.160 23.260 26.112 26.845 30.423 30.910 201,51 209,46
BIDV 23.160 23.260 26.096 26.476 30.434 30.929 206,04 209,67
VietinBank 23.145 23.255 26.096 26.821 30.417 31.057 206,20 212,70
Agribank 23.155 23.250 26.085 26.460 30.440 30.907 205,96 209,71
Eximbank 23.150 23.250 26.095 26.444 30.540 30.949 206,86 209,63
ACB 23.170 23.250 26.119 26.456 30.634 30.952 206,97 209,64
Sacombank 23.106 23.268 26.111 26.516 30.580 30.985 206,00 210,57
Techcombank 23.140 23.260 25.871 26.596 30.239 31.101 205,03 210,49
LienVietPostBank 23.140 23.240 25.925 26.533 30.540 31.143 205,30 210,16
DongA Bank 23.170 23.240 26.130 26.450 30.550 30.940 203,50 209,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.520
36.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.520
36.670
Vàng SJC 5c
36.520
36.690
Vàng nhẫn 9999
36.490
36.890
Vàng nữ trang 9999
36.120
36.720