15:37 | 13/03/2018

Diễn biến thị trường toàn cầu ngày 13/3/2018

Các nhà đầu tư chứng khoán châu Á đột ngột trở nên thạn trọng hơn vào thứ Ba sau khi thị trường chứng khoán Mỹ sụt giảm, với tâm điểm chú ý chuyển sáng báo cáo lạm phát ở Mỹ để tìm kiểm các manh mối về lộ trình thắt chặt chính sách của Fed. USD tăng so với các đồng tiền chủ chốt dù lợi suất trái phiếu Kho bạc ổn định.

Chứng khoán Nhật Bản dao động trước khi đóng cửa cao hơn, trong khi cổ phiếu của Hồng Kông và Trung Quốc trượt dốc. Thị trường chứng khoản Úc cũng chìm trong sắc đỏ do sự sụt giảm mạnh của nhóm cổ phiếu ngân hàng và khai mỏ. Chỉ số S&P 500 quay đầu giảm trở lại trong phiên qua đêm (phiên giao dịch Mỹ) sau khi tăng điểm mạnh nhất trong 5 tuần qua nhờ tăng trưởng việc làm cao hơn dự kiến.

Đồng yên suy yếu khi các nhà đầu tư loại trừ khả năng sụp đổ chính trị xuất phát từ một vụ scandal liên quan đến Bộ trưởng Tài chính Nhật Taro Aso.

“Xét về những gì đang diễn ra trên thế giới - chúng ta có những mâu thuẫn thương mại, chúng ta có Bắc Triều Tiên - trong bối cảnh đó, những gì đang xảy ra ở Nhật là không đáng kể”, Nader Naeimi – trưởng bộ phận các thị trường năng động của AMP Capital Investors ở Sydney nói với Bloomberg TV. Naeimi cũng cho biết ông hy vọng đồng yên sẽ suy yếu trước khi bắt đầu tăng mạnh.

Trên thị trường trái phiếu, lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ ký hạn 10 năm giữ ở mức 2,87% sau khi phiên đấu thầu trái phiếu Kho bạc hôm thứ Hai diễn ra đúng như kỳ vọng. Trong khi trên thị trường hàng hóa, giá dầu giảm xuống dưới 62 đô la một thùng và giá các kim loại công nghiệp trượt giảm.

Hiện các nhà đầu tư đang ngóng đợi dữ liệu về lạm phát và doanh số bán lẻ của Mỹ theo sau bởi các báo cáo về sản xuất công nghiệp, bán lẻ và đầu tư tài sản cố định của Trung Quốc để tìm kiếm xu hướng thị trường trong tuần này. Số liệu về lạm phát ở Mỹ là dữ liệu quan trọng cuối cùng trước khi cuộc họp chính sách của Fed diễn ra vào tuần tới.

Những thông tin đáng chú ý trong tuần:

- Số liệu về sản xuất công nghiệp, doanh số bán lẻ và đầu tư tài sản cố định ở Trung Quốc có thể sẽ chỉ ra sự tăng trưởng chậm lại của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, theo dự báo của Bloomberg Economics.
- Các chỉ số quan trong đối với kỳ họp chính sách của Fed diễn ra vào tuần tới sắp được công bố. Theo đó, lạm phát tổng thế có thể đã tăng lên 2,2% trong tháng Hai từ 2,1% của tháng 1, mặc dù sự đồng thuận trước khi báo cáo được công bố vào thứ Ba cho thấy lạm phát cơ bản vẫn ở mức 1,8%.
- Giá cả và đầu ra của nhà máy là những tiêu điểm trong khu vực đồng euro. Báo cáo lạm phát thứ hai của tháng 2 sẽ được công bố váo thứ Sáu có thể chạm mức 1,2% từ mức 1,1% của tháng trước.
- Cũng trong tuần này, Thủ tướng Đức Angela Merkel sẽ bắt đầu nhiệm kỳ thứ tư khi các quan chức chính phủ của 27 nước thành viên EU sẽ thảo luận về vấn đề Brexit của Liên minh châu Âu.

Một số diễn biến chính trên thị trường:

Cổ phiếu:
- Chỉ số Topix của Nhật Bản đóng cửa tăng 0,6%.
- Chỉ số Kospi của Hàn Quốc tăng 0,2%.
- Chỉ số S&P/ASX 200 của Úc giảm 0,4%.
- Chỉ số Hang Seng của Hồng Kông giảm 0,2% và chỉ số Shanghai Composite mất 0,2%.
- Hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 tăng ít hơn 0,05%. Chỉ số cơ bản đã mất 0,1% trong phiên hôm qua.

Tiền tệ:
- Chỉ số Bloomberg Dollar Spot tăng 0,1%.
- Đồng yên giảm 0,3% ở mức 106,78 JPY/USD.
- Đồng euro giảm xuống còn 1,2327 USD.
- Đồng bảng Anh giảm 0,1% xuống còn 1,3887 USD.

Trái phiếu:
- Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm giữ ở mức 2,87%.
- Lợi suất trái phiếu 10 năm của Úc giảm 1 điểm cơ bản xuống 2,81%.

Hàng hóa:
- Giá dầu thô WTI ổn định sau khi giảm 1,1%, ít thay đổi ở mức 61,35 USD/thùng.
- Giá vàng giảm 0,2% xuống còn 1.320,04 USD/oz.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,70
4,70
4,80
5,80
5,80
6,50
6,50
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
5,00
5,80
5,70
7,00
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.745 22.815 26.493 26.809 30.111 30.594 205,07 208,98
BIDV 22.740 22.810 26.485 26.794 30.119 30.575 205,68 208,74
VietinBank 22.737 22.817 26.422 26.800 30.062 30.622 205,56 208,96
Agribank 22.740 22.820 26.546 26.867 30.239 30.661 205,39 208,59
Eximbank 22.730 22.820 26.488 26.832 30.221 30.615 206,43 209,12
ACB 22.750 22.820 26.494 26.825 30.317 30.620 206,29 208,87
Sacombank 22.751 22.833 26.522 26.881 30.299 30.661 206,39 209,47
Techcombank 22.725 22.825 26.229 26.947 29.888 30.728 204,67 210,13
LienVietPostBank 22.720 22.820 26.440 26.891 30.283 30.516 205,64 209,69
DongA Bank 22.750 22.820 26.510 26.820 30.230 30.630 205,00 209,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.600
36.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.600
36.750
Vàng SJC 5c
36.600
36.770
Vàng nhẫn 9999
36.060
36.460
Vàng nữ trang 9999
35.710
36.410