15:59 | 14/05/2018

Diễn biến thị trường toàn cầu ngày 14/5/2018

Chứng khoán châu Âu đi ngược với đà tăng của thị trường châu Á do sự suy giảm của nhóm cổ phiếu năng lượng lớn hơn sự lạc quan trong việc giảm bớt căng thẳng thương mại toàn cầu. Đồng euro và bảng Anh tăng cao khi đồng USD tiếp tục suy giảm.

Chỉ số Stoxx Europe 600 sụt giảm nhẹ, với nhóm cổ phiếu dầu giảm điểm và cổ phiếu chăm sóc sức khỏe tăng. Hầu hết các thị trường châu Á tăng và chứng khoán tương lai đã chỉ ra sự gia tăng của cổ phiếu Mỹ khi thị trường này mở cửa. Cổ phiếu ở Malaysia đã xóa đi những tổn thất trước đó, trong khi đồng ringgit hoạt động tốt hơn dự đoán khi thị trường mở cửa trở lại sau kết quả bầu cử đầy bất ngờ của nước này hôm thứ Tư.

Trong một dấu hiệu cho thấy phía Mỹ đang để ngỏ cánh cửa để giảm bớt căng thẳng thương mại trước một cuộc họp ở Washington với các quan chức Trung Quốc trong tuần này, Tổng thống Donald Trump đã có động thái đảo ngược quyết định trước đó khi cho phép nhà sản xuất thiết bị viễn thông ZTE Corp hoạt động trở lại.

Mặc dù vậy, rủi ro bất ổn chính trị vẫn còn rất lớn như điễn biến chính trị tại Ý, tiến trình đàm phán Brexit và việc Mỹ chính thức di chuyển đại sứ quán của mình tại Israel.

Trên thị trường hàng hóa, giá dầu giảm xuống dưới 71 USD/thùng do các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất cho biết OPEC có đủ năng lực sản xuất dự phòng để giảm thiểu bất kỳ tác động nào trên thị trường dầu thô nếu Mỹ áp đặt lệnh trừng phạt đối với Iran.

Một số thông tin đáng chú ý trong tuần:
- Trung Quốc dự kiến sẽ cử Phó Thủ tướng Liu He đến Washington để đàm phán thương mại.
- Người đứng đầu đoàn đàm phán Brexit của Liên minh châu Âu, ông Michel Barnier, sẽ trình bày vắn tắt với các bộ trưởng thương mại châu Âu về tình hình đàm phán với Vương quốc Anh.
- Trung Quốc sẽ công bố một loạt các số liệu kinh tế, bao gồm sản xuất công nghiệp và doanh số bán lẻ vào thứ Ba.
- Thủ tướng Anh May sẽ gặp cơ quan Brexit của bà vào thứ Ba để thảo luận về kế hoạch sau khi rút khỏi liên minh hải quan.
- Số liệu về doanh số bán lẻ và sản xuất công nghiệp của Mỹ cũng sẽ được công bố trong tuần này.
- Vodafone Group, Home Depot, Credit Agricole, Tencent, Cisco Systems, Burberry Group, Walmart, Vivendi, AstraZeneca, Deere, Fujifilm, Noble Group và Campbell Soup là một trong số các Tập đoàn lớn sẽ báo cáo kết quả kinh doanh trong tuần này.

Một số diễn biến chính trên thị trường:

Cổ phiếu:
- Chỉ số Stoxx Europe 600 giảm gần 0,05% vào lúc 10h18 sáng, giờ New York.
- Chỉ số FTSE 100 của Anh giảm 0,1%, mức giảm lớn nhất trong hơn một tuần.
- Chỉ số DAX của Đức tăng ít hơn 0,05% lên 13.005,21 điểm.

Tiền tệ:
- Chỉ số Bloomberg Dollar Spot giảm 0,1% xuống 1.155,48 điểm, mức thấp nhất trong hơn một tuần.
- Đồng euro tăng 0,2% lên 1,1968 USD, mức tăng mạnh nhất trong hơn một tuần.
- Đồng bảng Anh tăng 0,3% lên 1,3578 USD, mức tăng mạnh nhất trong gần 3 tuần, đưa đồng tiền này lên mức cao nhất trong gần 2 tuần.
- Đồng franc Thụy Sĩ tăng 0,1% lên 0,999 CHF/USD, mạnh nhất trong hơn một tuần.

Trái phiếu:
- Lợi suất trái phiếu Kho bạc 2 năm của Mỹ giảm gần 1 điểm cơ bản xuống 2,53%, phiên giảm đầu tiên trong hơn 1 tuần.
- Lợi suất trái phiếu Kho bạc 10 năm của Mỹ tăng gần 1 điểm cơ bản lên 2,97%.
- Lợi suất trái phiếu 10 năm của Anh tăng 2 điểm cơ bản lên 1,467%, mức cao nhất trong hơn 2 tuần.
- Lợi suất trái phiếu 10 năm của Đức đã tăng 2 điểm cơ bản lên 0,58%, mức cao nhất trong hơn 1 tuần.

Hàng hóa:
- Giá vàng tăng 0,2% lên 1.320,90 USD/oz.
- Dầu thô WTI giảm 0,5% xuống 70,37 USD/thùng.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.270 23.350 26.253 26.567 29.250 29.718 206,68 213,17
BIDV 23.270 23.350 26.320 26.635 29.317 29.764 208,10 211,29
VietinBank 23.259 23.349 26.289 26.667 29.271 29.831 207,84 211,84
Agribank 23.265 23.350 26.223 26.565 29.495 29.747 207,03 210,81
Eximbank 23.250 23.350 26.291 26.642 29.385 29.777 208,63 211,42
ACB 23.280 23.360 26.366 26.705 29.522 29.828 208,81 211,50
Sacombank 23.272 23.364 26.281 26.638 29.480 29.834 207,71 210,78
Techcombank 23.250 23.350 26.040 26.748 29.063 29.875 207,24 212,59
LienVietPostBank 23.260 23.360 26.190 26.644 29.401 29.810 208,81 212,56
DongA Bank 23.280 23.360 26.340 26.640 29.430 29.790 207,50 211,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.540
36.740
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.540
36.720
Vàng SJC 5c
36.540
36.740
Vàng nhẫn 9999
34.220
34.620
Vàng nữ trang 9999
33.870
34.570