14:42 | 15/05/2018

Diễn biến thị trường toàn cầu ngày 15/5/2018

Tâm lý lo ngại rủi ro bỗng nhiên trỗi dạy, bao phủ trên khắp các thị trường vào thứ Ba, với chứng khoán châu Âu theo chân chứng khoán châu Á sụt giảm khá mạnh khi các nhà đầu tư vật lộn với những lo ngại xung quanh vấn đề thương mại, tăng trưởng và địa chính trị. Trái phiếu cũng bị bán mạnh trong khi đồng đôla và giá dầu đã ổn định trở lại.

Chỉ số Stoxx Europe 600 giảm ngày thứ 2 liên tiếp khi hầu hết các thước đo quốc gia trong khu vực đều giảm điểm. Các chỉ số chứng khoán chính cũng giảm ở Hồng Kông, Hàn Quốc và Úc, và ít thay đổi ở Nhật Bản. Trong khi giá cổ phiếu biến đọng trái chiều ở Trung Quốc và Hồng Kông sau khi số liệu mới được công bố cho thấy đầu tư chậm lại.

Đồng bạc xanh tăng cao hơn một chút do lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ lại một lần nữa vượt qua ngưỡng tâm lý 3%. Tuy nhiên, đồng euro vẫn duy trì được đà tăng nhẹ ngay cả khi dữ liệu tăng trưởng của Đức là kém khả quan.

Đà bán tháo trái phiếu dường như bắt đầu tại thị trường châu Âu trong phiên hôm thứ Hai, phản ứng với những phát biểu đầy lạc quan của một quan chức ECB về việc thắt chặt lại tiền tệ, lan sang phiên giao dịch Mỹ và chuyển sang thị trường châu Á hôm nay. Lợi suất trái phiếu tăng, đồng đôla cũng phục hồi trong khi giá cổ phiếu giảm đã trở thành một vấn đề quen thuộc, nhưng không mấy thoải mái với các nhà đầu tư.

Trong khi đó, xung đột ở Trung Đông, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và bất ổn chính trị tại Italia, cộng thêm nỗi lo về tăng trưởng toàn cầu đang đề nặng lên tâm lý của các nhà đầu tư.

Ở những nơi khác, đồng lira Thổ Nhĩ Kỳ đạt mức thấp mới sau khi Tổng thống Recep Tayyip Erdogan cho biết ông dự định thắt chặt kiểm soát đối với nền kinh tế và chịu trách nhiệm nhiều hơn về chính sách tiền tệ nếu ông thắng một cuộc bầu cử vào tháng tới.

Những thông tin đáng chú ý trong tuần:
- Trung Quốc dự kiến sẽ cử Phó Thủ tướng Lưu Hạc đến Washington để đàm phán thương mại.
- Michel Barnier – Trưởng đoàn đàm phán Brexit của EU sẽ báo cáo tóm tắt với các bộ trưởng Thương mại châu Âu về tình hình đàm phán với Vương quốc Anh.
- Thủ tướng Anh Theresa May sẽ gặp cơ quan Brexit của bà vào thứ Ba để thảo luận về kế hoạch rút khỏi liên minh hải quan.
- Số liệu về doanh số bán lẻ, sản xuất công nghiệp của Mỹ sắp được công bố trong tuần này.

Một số diễn biến chính trên thị trường:

Cổ phiếu:
- Chỉ số Stoxx Europe 600 giảm 0,3% thời điểm 8h08 sáng, giờ London, mức giảm lớn nhất trong hơn 1 tuần đưa chỉ số này xuống thấp nhất trong 1 tuần.
- Hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 giảm 0,3%, phiên giảm điểm đầu tiên trong gần 2 tuần.
- Chỉ số MSCI All-Country World giảm 0,3%, phiên giảm đầu tiên trong 1 tuần và là mức giảm lớn nhất trong hơn 1 tuần.
- Chỉ số FTSE 100 của Anh giảm 0,3%, mức giảm lớn nhất trong hơn 1 tuần.
- Chỉ số DAX của Đức giảm 0,3%, mức giảm lớn nhất trong 1 tuần.
- Chỉ số MSCI Emerging Market giảm 0,9%, phiên giảm đầu tiên trong hơn 1 tuần.
- Chỉ số MSCI châu Á - Thái Bình Dương giảm 0,6%, mức giảm lớn nhất trong gần 3 tuần.

Tiền tệ:
- Chỉ số Bloomberg Dollar Spot tăng ít hơn 0,05%.
- Đồng euro tăng 0,1% lên 1,1933 USD.
- Bảng Anh tăng ít hơn 0,05% lên 1,3557 USD, mức mạnh nhất trong hơn 1 tuần.
- Yên Nhật giảm 0,2% xuống còn 109,85 JPY/USD, mức thấp nhất trong 2 tuần.

Trái phiếu:
- Lợi suất trái phiếu Kho bạc 10 năm của Mỹ tăng 2 điểm cơ bản lên 3,02%, mức cao nhất trong gần 3 tuần.
- Lợi suất trái phiếu 10 năm của Đức tăng 2 điểm cơ bản lên 0,63%, mức cao nhất trong gần 3 tuần.
- Lợi suất trái phiếu 10 năm của Anh tăng 2 điểm cơ bản lên 1,491%, mức cao nhất trong gần 3 tuần.

Hàng hóa:
- Giá dầu thô WTI giảm 0,2% xuống 70,84 USD/thùng.
- Giá đồng giảm 0,3% xuống 3,08 USD/pound.
- Vàng giảm 0,1% xuống 1.311,54 USD/oz, mức thấp nhất trong gần 2 tuần.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.300 23.390 26.553 26.870 30.062 30.543 205,03 212,15
BIDV 23.305 23.395 26.570 26.902 30.105 30.581 205,23 208,77
VietinBank 23.299 23.394 26.464 26.842 30.026 30.586 205,35 208,75
Agribank 23.295 23.380 26.635 26.970 30.257 30.695 204,93 208,36
Eximbank 23.290 23.390 26.665 27.021 29.269 30.673 205,80 208,55
ACB 23.310 23.390 26.602 27.098 30.273 30.761 205,32 209,15
Sacombank 23.308 23.400 26.731 27.090 30.364 30.728 205,93 208,98
Techcombank 23.280 23.390 26.418 27.157 29.881 30.871 204,36 209,85
LienVietPostBank 23.290 23.390 26.487 26.949 30.191 30.612 205,93 209,63
DongA Bank 23.310 23.390 26.660 27.060 29.240 30.720 204,20 208,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.650
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.630
Vàng SJC 5c
36.490
36.650
Vàng nhẫn 9999
35.000
35.400
Vàng nữ trang 9999
34.550
35.350