14:12 | 06/02/2018

Diễn biến thị trường toàn cầu ngày 6/2/2018

Chứng khoán châu Á giảm mạnh ngày thứ 2 liên tiếp và chứng khoán tương lai của Mỹ tiếp tục sụt giảm sau động thái bán tháo điên cuồng trên thị trường chứng khoán. Các nhà đầu tư đã chạy trốn sang các tài sản an toàn, giúp đẩy tăng giá đồng yên và trái phiếu Kho bạc Mỹ.

Chỉ số Nikkei 225 đóng cửa ở trên mức thấp trong ngày, song sự phục hồi yếu ớt này là không đủ để ngăn chặn sự mức giảm hơn 10% so với mức cao kỷ lục thiết lập vào ngày 23/1. Các thị trường cổ phiếu trong khu vực đã nới rộng đà giảm của chứng khoán toàn cầu khi mà hầu như toàn bộ cổ phiếu thuộc chỉ số MSCI châu Á - Thái Bình Dương với hơn 1.000 thành viên đều giảm. Mức độ biến động của chỉ số Nikkei 225 Stock Average là mạnh nhất kể từ năm 2013 với khối lượng giao dịch tăng hơn gấp đôi so với mức trung bình 30 ngày.

Hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 tương lai giảm 10% từ mức cao kỷ lục trong chưa đầy hai tuần; chỉ số chính đã rơi xuống mức thấp nhất kể từ năm 2011 trong phiên hôm thứ Hai.

Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm giảm khoảng 0,2% phần trăm so với mức cao gần đây khi các nhà đầu tư tìm kiếm sự bảo vệ khỏi đà giảm giá của cổ phiếu.

Trên thị trường hàng hóa, giá dầu cũng giảm ngày thứ 3 liên tiếp, trong khi nhiều kim loại khác cũng bị bán tháo sau khi tăng giá trong phiên hôm thứ Hai.

Đồng yên tăng mạnh so với đồng USD. Còn bitcoin giảm tiếp trong ngày thứ 6 liên tục, hiện đã rơi xuống mức khoảng 6.000 USD.

Tuy nhiên, ngay cả khi chứng khoán đang bị bán tháo mạnh, một số nhà đầu tư lớn nhất vẫn tương đối lạc quan. Ray Dalio - nhà sáng lập quỹ phòng hộ rủi ro lớn nhất thế giới, Bridgewater Associates, cho biết sự sụt giảm lớn chỉ là “những điều chỉnh nhỏ trong phạm vi của sự việc” và rất nhiều tiền mặt đang chờ mua. Jurrien Timmer - Giám đốc bộ phận kinh doanh toàn cầu của Fidelity Investments cũng cho biết ông không mong đợi thị trường chứng khoán giảm hơn 10%.

“Tôi thực sự nghĩ rằng có nhiều cơ hội mua vào, có lẽ không phải là hôm nay, nhưng trong tuần này”, Sean Fenton, một nhà quản lý danh mục đầu tư của Tribeca Investment Partners cho biết.

Những thông tin đáng chú ý trong tuần:

- Ngân hàng Dự trữ Australia đã nguyên lãi suất vào thứ Ba.

- Quyết định về chính sách tiền tệ cũng có tại Nga, Ấn Độ, Ba Tây, Ba Lan, Rumani, U.K., New Zealand, Serbia, Peru và Philippines.

- Mùa báo cáo kết quả kinh doanh được tiếp tục với các báo cáo từ Toyota Motor Corp., BNP Paribas, BP, General Motors, Walt Disney, SoftBank, Sanofi, Philip Morris, Total, Tesla, Rio Tinto, L'Oreal và Twitter.

- Chủ tịch Fed Dallas Robert Kaplan và Chủ tịch Fed New York William Dudley sẽ phát biểu tại Frankfurt và New York.

Một số diễn biến chính trên thị trường:

Cổ phiếu:

- Chỉ số Topix của Nhật đóng cửa giảm 4,4%, mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 11/2016; chỉ số Nikkei 225 giảm 4,7%, thu hẹp mức giảm 7,1% trong phiên.

- Chỉ số S&P/ASX 200 của Úc giảm 3,2%.

- Chỉ số Hang Seng của Hồng Kông giảm 4,3%; Chỉ số Composite Thượng Hải giảm 3,2%.

- Chỉ số Kospi của Hàn Quốc mất 1,3%.

- Hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 giảm 1%, xóa đi mức tăng trước đó và có thời điểm đã giảm tới 3%. Chỉ số cơ bản đã giảm 4,1% trong phiên hôm thứ Hai.

- Chỉ số MSCI châu Á - Thái Bình Dương giảm 3,3%, mức giảm lớn nhất kể từ tháng 6/2016, khi thị trường cổ phiếu chịu tác động mạnh từ sự kiện bỏ phiếu Brexit.

Tiền tệ:

- Chỉ số Bloomberg Dollar Spot tăng 0,1%.

- Đồng yen tăng 0,3% lên 108,79 JPY/USD sau khi tăng 1% vào thứ Hai.

- Đồng euro thay đổi chút ít ở mức 1,2376 USD.

- Đồng bảng Anh ổn định ở mức 1,3966 USD.

- Đôla Úc giao dịch ở mức 78,39 cent Mỹ, giảm 0,4%.

Trái phiếu:

- Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm giảm 1 điểm cơ bản xuống còn 2,69% sau khi giảm hơn 13 điểm cơ bản hôm thứ Hai.

- Lợi suất trái phiếu 10 năm của Úc giảm hơn 11 điểm cơ bản xuống 2,82%.

Hàng hóa:

- Giá dầu WTI giảm 1,1% xuống còn 63,49 USD/thùng.

- Giá vàng tăng 0,3% lên 1.343,48 USD/ounce.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,40
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,80
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,90
4,90
4,90
6,00
6,10
6,70
7,00
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.700 22.770 27.774 28.106 31.416 31.920 208,41 213,24
BIDV 22.705 22.775 27.772 28.089 31.369 31.839 210,12 213,26
VietinBank 22.696 22.776 27.742 28.148 31.386 31.946 210,35 213,83
Agribank 22.680 22.760 27.800 28.130 31.398 31.831 210,34 213,65
Eximbank 22.680 22.770 27.726 28.087 31.498 31.908 211,03 213,78
ACB 22.705 22.775 27.666 28.174 31.507 32.006 210,57 214,44
Sacombank 22.697 22.790 27.814 28.175 31.554 31.911 210,82 213,94
Techcombank 22.685 22.775 27.465 28.344 31.104 32.003 209,05 215,21
LienVietPostBank 22.650 22.775 27.736 28.203 31.491 31.912 210,54 214,23
DongA Bank 22.700 22.770 27.720 28.140 30.490 30.980 210,60 214,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.870
37.040
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.870
37.020
Vàng SJC 5c
36.870
37.040
Vàng nhẫn 9999
36.770
37.170
Vàng nữ trang 9999
36.420
37.120