15:28 | 08/02/2018

Diễn biến thị trường toàn cầu ngày 8/2/2018

Chứng khoán châu Á biến động trong phiên hôm thứ Năm do các nhà đầu tư tiếp tục đánh giá những tác động của tình trạng bất ổn thị trường gần đây. Đồng nhân dân tệ giảm mạnh nhất kể từ tháng 8/2015 sau khi số liệu thương mại không được như ước tính, cộng thêm làn sóng đầu cơ các nhà hoạch định chính sách nước này sẽ tăng cường kiểm soát đà tăng của đồng nội tệ.

Cổ phiếu Nhật Bản đóng cửa cao hơn và đồng yên suy yếu. Cổ phiếu của Trung Quốc giảm ngày thứ 3 liên tiếp, trong khi cổ phiếu Hồng Kông tăng. Hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 đã tăng lên sau khi thu hẹp khoản lỗ trước đó. Lợi tức trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm sụt giảm sau khi tăng như là kết quả từ nhu cầu yếu trong một phiên bán trái phiếu hôm thứ tư đã đẩy lợi suất giảm trở lại từ mức cao nhất trong 4 năm gần đây. Đồng USD quay đầu giảm, còn đồng euro tăng lên.

“Có rất nhiều rủi ro phía trước và chúng tôi đã bị ru vào trong một cảm giác sai về chứng khoán trong vài năm qua với việc các ngân hàng trung ương giữ lãi suất thấp trong một thời gian dài”, Steve Goldman – Người đứng đầu và là nhà quản lý danh mục đầu tư của Kapstream Capital cho biết trên Bloomberg TV. “Tài sản rủi ro sẽ tiếp tục tăng trưởng tốt mặc dù có nhiều biến động hơn so với những gì chúng ta đã thấy trong quá khứ”.

Những lo ngại rằng Fed có thể đẩy nhanh tiến độ thắt chặt trong năm nay đã gây ra sự gia tăng lợi suất trái phiếu chính phủ. Chủ tịch Fed Chicago, ông Charles Evans, cho biết vào hôm thứ Tư, lạm phát bền vững có thể thúc đẩy tăng lãi suất nhiều hơn.

Trong khi đó, đồng nhân dân tệ giảm mạnh trong phiên giao dịch hôm thứ Năm, mức giảm mạnh nhất kể từ khi Trung Quốc bất ngờ phá giá đồng nội tệ vào tháng 8/2015, sau khi Trung Quốc báo cáo thặng dư thương mại thấp hơn dự kiến. Đồng đôla New Zealand cũng giảm sau khi ngân hàng trung ương nước này trì hoãn thời điểm đạt được mục tiêu lạm phát và cắt giảm dự báo tăng trưởng.

Trên thị trường hàng hóa, giá dầu đã biến động sau khi một báo cáo cho thấy sản lượng dầu thô của Mỹ tăng cao kỷ lục; giá vàng giảm xuống mức thấp nhất trong 4 tuần.

Những thông tin đáng chú ý còn lại trong tuần:

- Anh sẽ đưa ra quyết định chính sách tiền tệ vào thứ Năm. Dự báo Thống đốc Ngân hàng Trung ương Anh Mark Carney sẽ nhấn mạnh rằng sự tăng giá tiếp tục của đồng bảng, vốn đã tăng mạnh gần 3% kể từ đầu năm 2018, sẽ kiềm chế lạm phát. Điều này là trái ngược với Ngân hàng Dự trữ New Zealand khi tuyên bố vào sớm thứ Năm rằng họ dự kiến ​​tỷ giá hối đoái sẽ nới lỏng hơn.

- Mùa báo cáo thu nhập sẽ tiếp tục với các báo cáo của Philip Morris, L'Oreal và Twitter.

Một số diễn biến chính trên thị trường:

Cổ phiếu:

- Chỉ số MSCI châu Á - Thái Bình Dương tăng 0,4% vào lúc 4h28 chiều, giờ Tokyo.

- Chỉ số Topix tăng 0,9%.

- Chỉ số Hang Seng của Hồng Kông tăng 0,3%.

- Chỉ số Kospi tăng 0,5%.

- Chỉ số S&P/ASX 200 của Úc tăng 0,2%.

- Hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 tăng 0,1%.

Tiền tệ:

- Chỉ số Bloomberg Dollar Spot giảm 0,1%.

- Đồng yên Nhật giảm 0,3% xuống 109,61 JPY/USD.

- Đồng euro tăng 0,2% lên 1,2288 USD.

Trái phiếu:

- Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm giảm gần 1 điểm cơ bản xuống còn 2,83%.

- Lợi suất trái phiếu 10 năm của Nhật tăng một điểm cơ bản lên 0,082%.

Hàng hóa:

- Giá dầu thô WTI giảm gần 0,05% xuống còn 61,77 USD/thùng.

- Giá vàng giảm 0,4% xuống còn 1.313,55 USD/ounce.

- Giá đồng LME tăng 0,3% lên 6.898,50 USD/tấn.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,90
4,90
4,90
6,00
6,10
6,70
7,00
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
-
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.675 22.745 27.809 28.141 31.424 31.928 207,14 211,94
BIDV 22.670 22.740 27.813 28.135 31.457 31.932 209,17 202,28
VietinBank 22.650 22.730 27.729 28.135 31.357 31.917 208,62 212,10
Agribank 22.665 22.735 27.794 28.127 31.410 31.914 205,29 211,49
Eximbank 22.650 22.740 27.787 28.149 31.532 31.943 209,49 212,22
ACB 22.680 22.750 27.805 28.154 31.627 31.944 209,63 212,26
Sacombank 22.660 22.770 27.841 28.223 31.612 31.997 209,51 212,75
Techcombank 22.650 22.750 27.466 28.356 31.159 32.073 207,74 213,42
LienVietPostBank 22.620 22.745 27.633 28.096 31.221 31.636 206,75 210,40
DongA Bank 22.680 22.750 27.090 27.400 30.480 30.830 199,80 202,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.850
37.100
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.850
37.100
Vàng SJC 5c
36.850
37.120
Vàng nhẫn 9999
36.690
37.090
Vàng nữ trang 9999
36.390
37.090