13:32 | 09/01/2018

Diễn biến thị trường toàn cầu ngày 9/1/2018

Chứng khoán châu Á được xây dựng dựa trên sự khởi đầu năm tốt nhất kể từ năm 2006 khi các nhà giao dịch Nhật Bản quay trở lại sau kỳ nghỉ sau khi chứng khoán Mỹ tăng lên mức cao nhất mọi thời đại mới. Đồng yên tăng nhờ sự điều chỉnh của NHTW Nhật Bản (BOJ) trong việc mua trái phiếu.

Các cổ phiếu của Nhật Bản đã thu hẹp mức tăng do đồng yên Nhật tăng lên sau thông báo của BOJ về một sự chỉnh sửa nhỏ đối với việc mua nợ dài hạn. Theo đó, đồng yên Nhật tăng 0,4% so với đồng USD sau khi BOJ cắt giảm mua trái phiếu chính phủ đáo hạn sau hơn 10 năm khoảng 10 tỷ yên (88 triệu USD) so với tháng trước.

Hiện một số nhà phân tích vẫn dự báo BOJ sẽ “tinh chỉnh” chương trình kích thích kinh tế trong năm nay, cho dù Thống đốc Haruhiko Kuroda đã nhiều lần nhấn mạnh rằng không có sự thay đổi nào trong tương lai gần.

Cổ phiếu từ Sydney đến Hong Kong cũng tăng nhẹ sau khi chỉ số S&P 500 bật lên và đóng cửa với mức cao mới. Cổ phiếu Samsung suy giảm sau khi Tập đoàn này công bố lợi nhuận của họ đã đè nặng lên chỉ số chứng khoán Hàn Quốc. Báo cáo thu nhập sẽ tiếp tục là trọng tâm trong tuần tới, trong đó có nhiều định chế tài chính lớn như JPMorgan Chase & Co. và Wells Fargo & Co. Sự suy yếu của đồng USD trong năm 2017 có thể mang lại lợi ích cho một số doanh nghiệp, song nó lại gây nhiều thiệt hại cho Samsung.

Dấu hiệu căng thẳng trên thị trường tài chính tiếp tục giảm vào đầu năm 2018 trong bối cảnh sự lạc quan rằng mức thuế thấp hơn tại Mỹ và sự phục hồi kinh tế toàn cầu đang mở rộng sẽ bảo vệ cho mức giá cao kỷ lục của cổ phiếu toàn cầu. Tại châu Âu, dữ liệu cho thấy niềm tin vào khu vực đồng euro vẫn tiếp tục tăng vào cuối năm 2017. Tuy nhiên, đồng euro đang chịu nhiều áp lực do lo ngại bất ổn chính trị tại Đức.

“Tăng trưởng toàn cầu mạnh mẽ trong khi lạm phát vẫn yếu thực sự là một môi trường tốt cho các cổ phiếu ở châu Á, trong đó có công nghệ”, Ajay Kapur – Trưởng bộ phận chiến lược thị trường đang nổi khu vực châu Á - Thái Bình Dương và toàn cầu của Bank of America Merrill Lynch ở Hồng Kông cho biết trong cuộc phỏng vấn với Bloomberg TV. “Tuy nhiên xét về biên lợi nhuận, bạn sẽ bị tổn thương một chút về đồng tiền (USD giảm)”, như đã thấy với Samsung, nhưng nhu cầu về các sản phẩm của các công ty công nghệ vẫn rất lớn.

Những thông tin đáng chú ý sắp tới:

- Doanh số bán lẻ tại Úc sẽ được công bố vào thứ Năm.

- Dữ liệu lạm phát của Mỹ được dự báo sẽ cho thấy áp lực về giá vẫn yếu, khiến cho những quan chức Fed có thêm lý do để tranh luận về việc thắt chặt nhanh hơn.

- Chủ tịch Fed St Louis, ông James Bullard, và Chủ tịch Fed New York, ông Bill Dudley, là những quan chức Fed dự kiến sẽ có bài phát biểu trong tuần này.

- Các dữ liệu về giá sản xuất và tiêu dùng của Trung Quốc sẽ được phát hành vào thứ Tư, trong khi dự báo về cung tiền của nước này cũng sắp được công bố.

- Các cuộc đàm phán giữa Hàn Quốc và Triều Tiên sẽ diễn ra vào thứ Ba.

Một số diễn biến chính trên thị trường:

Cổ phiếu:

- Chỉ số Topix của Nhật tăng 0,4% vào lúc 2:55 pm tại Tokyo, thu hẹp so với mức tăng 0,8% trước đó.

- Hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 giảm 0,1% sau khi chỉ số chính tăng 0,2% vào thứ Hai.

- Chỉ số MSCI châu Á - Thái Bình Dương tăng 0,3% và tăng 3,8% kể từ năm bắt đầu.

- Chỉ số Hang Seng của Hồng Kông tăng 0,3% trong ngày tăng điểm thứ 11, mức tăng dài nhất kể từ năm 1999. Chỉ số Kospi của Hàn Quốc đảo chiều tăng điểm.

Tiền tệ:

- Đồng yen tăng 0,4% lên 112,68 JPY/USD.

- Đồng euro ở mức 1,1966 USD sau khi giảm 0,5% vào thứ Hai.

- Chỉ số Bloomberg Dollar Spot giảm 0,1% sau khi tăng 0,3% vào thứ Hai - mức tăng lớn nhất trong hơn 3 tuần.

- Đồng bảng Anh giao dịch ở mức 1,3573 USD.

Trái phiếu:

- Lợi suất trái phiếu Kho bạc kỳ hạn 10 năm của Mỹ giữ ở mức 2,48% vào đầu phiên giao dịch hôm thứ Ba.

- Lợi suất trái phiếu 10 năm của Úc tăng khoảng 2 điểm cơ bản lên 2,67%.

Hàng hóa:

- Giá vàng kỳ hạn ít thay đổi ở mức 1.319,72 USD/oz.

- Giá dầu WTI tăng 0,8% lên 62,19 USD/thùng.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.240 23.330 26.251 26.723 29.066 29.532 199,09 206,12
BIDV 23.240 23.330 26.237 26.603 29.105 29.565 202,71 206,19
VietinBank 23.228 23.328 26.199 26.704 29.015 29.575 202,68 206,43
Agribank 23.245 23.330 26.266 26.619 29.078 29.518 203,14 206,63
Eximbank 23.220 23.320 26.241 26.592 29.180 29.571 203,54 206,26
ACB 23.240 23.320 26.244 26.582 29.247 29.550 203,60 206,22
Sacombank 23.244 23.336 26.287 26.651 29.253 29.608 203,63 206,68
Techcombank 23.215 23.330 25.994 26.715 28.856 29.684 202,19 207,45
LienVietPostBank 23.230 23.330 26.187 26.645 29.234 29.645 202,91 206,59
DongA Bank 23.275 23.330 26.270 26.590 29.390 29.570 202,20 206,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.230
36.390
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.230
36.370
Vàng SJC 5c
36.230
36.390
Vàng nhẫn 9999
35.230
35.630
Vàng nữ trang 9999
34.888
35.580