10:24 | 12/01/2017

Diễn biến thị trường toàn cầu sáng 12/1/2017

Đồng yên tăng giá khá mạnh trong phiên giao dịch châu Á sáng nay trong khi chứng khoán Nhật Bản giảm sau khi cuộc họp báo đầu tiên của ông Donald Trump kể từ sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ không cung cấp nhiều chi tiết về các chính sách sắp tới. Cổ phiếu của các nhà sản xuất hàng hóa tăng sau khi giá dầu thô tăng mạnh.

Cổ phiếu của các hãng dược và xuất khẩu kéo thị trường chứng khoán Nhật Bản sụt giảm sau khi ông Trump chỉ trích ngành công nghiệp dược phẩm; trong khi đồng yên Nhật lại mở rộng đà tăng so với đồng USD. Cổ phiếu Hồng Kông tăng lên sát mức đỉnh hai tháng, trong khi các công ty công nghiệp dẫn đầu mức tăng trên thị trường Úc. Chỉ số chứng khoán của khu vực châu Á tăng ngày thứ tư liên tiếp, hướng đến mức giá đóng cửa cao nhất kể từ tháng 10. Giá dầu suy giảm đôi chút sau khi có mức tăng mạnh nhất trong hơn 1 tháng vào phiên hôm qua.

Tổng thống mới đắc cử Donald Trump cho biết ông sẽ buộc ngành công nghiệp dược phẩm phải đấu thầu trong các đợt mua hàng của chính phủ trên thị trường thuốc lớn nhất thế giới này, nơi mà nhiều công ty dược phẩm của Nhật đang kinh doanh.

Tuy nhiên cuộc họp báo đầu tiên của ông Trump không cung cấp cho các nhà đầu tư nhiều chi tiết cụ thể về thời gian và quy mô của kế hoạch chính sách của mình, từ việc chi tiêu cơ sở hạ tầng đến các hiệp ước thương mại.

Kể từ sau chiến thắng của ông Trump, đồng USD và chứng khoán toàn cầu đã tăng mạnh, trong khi trái phiếu bị bán ra trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế Mỹ được kỳ vọng sẽ nhận được một cú hích từ các chính sách của ông Trump.

“Thị trường đã kỳ vọng rằng ông Trump sẽ cung cấp thêm chi tiết về các chính sách của mình. Sự tăng giá khá mạnh của đồng yên đã phần nào phản ánh sự thất vọng đó”, Masakuni Fujiwara - Giám đốc điều hành Quỹ VistaMax Advisors Ltd tại Tokyo cho biết. “Cổ phiếu của các doanh nghiệp trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe đã bị ảnh hưởng bởi ý kiến ​​của ông Trump”.

Cổ phiếu:

- Chỉ số MSCI Asia Pacific Index tăng 0,7% thời điểm 10h57 tại Tokyo, với số lượng cổ phiếu tăng gần như ngang bằng với lượng cổ phiếu giảm.

- Chỉ số Topix của Nhật Bản giảm 0,6%. Cổ phiếu của Takeda Pharmaceutical Co giao dịch thấp hơn 2,8%; Chugai Pharmaceutical Co mất 2,6% và Astellas Pharma Inc giảm 3,8%.

- Chỉ số S&P/ASX 200 của Australia và chỉ số Kospi của Hàn Quốc tăng ít nhất 0,2%. S&P/NZX 50 Index của New Zealand giảm 0,2%. Cổ phiếu BHP Billiton tăng 1,7%.
- Chỉ số Shanghai Composite tăng 0,2% trong khi chỉ số Hang Seng của Hồng Kông chỉ thay đổi chút ít.

Tiền tệ:

- Chỉ số Bloomberg Dollar Spot Index - thước đo của đồng đôla so với 10 đồng tiền chủ chốt - giảm 0,1%, phiên giảm thứ hai liên tiếp. Tuy nhiên, chỉ số này đã tăng gần 0,2% kể từ khi Fed quyết định tăng lãi suất vào ngày 14/12.

- Yên tăng 0,4% phần trăm đến 114,77 JPY/USD sau khi tăng 0,3% trong phiên hôm qua.

- Đồng đôla Úc tăng 0,26% lên 74,60 UScent sau khi tăng 1% trong phiên hôm thứ Tư, trong khi đồng đôla kiwi tăng 0,1% lên 70,62 USDcent sau khi tăng 0,9% trong phiên giao dịch hôm qua.

Hàng hóa:

- Giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giảm hơn 0,1% sau khi đã tăng 2,8% trong phiên hôm qua – mức tăng mạnh nhất kể từ ngày 1/12 sau khi một báo cáo của Chính phủ Mỹ cho thấy các nhà máy lọc dầu của Mỹ xử lý một lượng dầu thô kỷ lục trong tuần trước.

- Vàng tăng 0,3%, ngày tăng thứ tư liên tiếp.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,80
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
6,60
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,70
5,00
5,70
5,70
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,00
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,70
4,70
4,90
5,60
5,80
6,40
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
5,50
5,70
6,80
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
5,40
5,50
5,50
6,70
6,80
7,20
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.770 22.840 23.972 24.259 28.091 28.542 198,37 202,16
BIDV 22.775 22.845 24.049 24.263 28.283 28.541 200,27 202,01
VietinBank 22.753 22.833 23.930 24.263 28.042 28.548 198,52 202,01
Agribank 22.760 22.850 23.898 24.275 28.064 28.583 198,89 202,35
Eximbank 22.760 22.860 23.969 24.281 28.207 28.575 199,70 202,30
ACB 22.760 22.850 23.981 24.281 28.286 28.569 199,60 202,10
Sacombank 22.750 22.850 24.936 24.369 28.115 28.656 199,44 202,20
Techcombank 22.750 22.860 23.757 24.344 27.910 28.596 198,69 202,71
LienVietPostbank 22.760 22.850 23.782 24.333 28.310 28.607 197,93 200,29
DongA Bank 22.770 22.850 24.010 24.280 28.240 28.570 199,60 202,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.660
36.980
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.660
36.960
Vàng SJC 5c
36.660
36.980
Vàng nhẫn 9999
34.380
34.780
Vàng nữ trang 9999
33.880
34.680