13:00 | 12/07/2019

Doanh nghiệp cần bớt lệ thuộc vào vốn ngân hàng

Gần đây, không chỉ các ngân hàng mà các doanh nghiệp (DN) tích cực phát hành trái phiếu. Lý do nào, thị trường trái phiếu DN lại trở nên sôi động như vậy? Phóng viên Thời báo Ngân hàng đã trao đổi với TS. Cấn Văn Lực - Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ ngân hàng BIDV để tìm ra câu trả lời cho hiện tượng trên.

Để doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng
Doanh nghiệp khởi nghiệp: Không nên chỉ trông chờ vào vốn ngân hàng
Ảnh minh họa

Ông đánh giá thế nào về thị trường trái phiếu DN những tháng đầu năm?

Theo số liệu chúng tôi cập nhật, trong 5 tháng đầu năm các DN bao gồm cả các ngân hàng, CTCK phát hành khoảng 60 nghìn tỷ đồng trái phiếu… Đây là tín hiệu tích cực đối với thị trường vốn. Qua đó, cho thấy DN đã chủ động tìm nguồn vốn mới đặc biệt liên quan đến vốn trung dài hạn, khi nguồn vốn trung, dài hạn của ngân hàng không dồi dào như trước và room tín dụng cũng bị siết chặt hơn.

Điểm tích cực nữa, theo tôi, đó là hoạt động sôi động từ thị trường trái phiếu DN góp phần cân bằng hơn thị trường tài chính, cũng như thúc đẩy sự phát triển thị trường này thông qua việc đa dạng hóa sản phẩm trên thị trường. Đó còn là động lực cho các DN tăng tính minh bạch trong hoạt động, bởi DN nào muốn phát hành trái phiếu thành công đương nhiên phải cung cấp thông tin, số liệu tài chính… để NĐT nắm bắt xem xét đầu tư.

Gần đây một số ngân hàng tham gia mua trái phiếu DN với lô lớn. Ông đánh giá sao về động thái trên?

Đúng là vừa qua, không chỉ thực hiện phát hành trái phiếu, mà bản thân các ngân hàng cũng đầu tư mua trái phiếu DN. Tôi nghĩ đây là hoạt động đầu tư kinh doanh bình thường của ngân hàng. Theo quy định của NHNN, ngân hàng khi đầu tư vào trái phiếu vẫn tính vào dư nợ cho vay đầu tư. Do đó, các ngân hàng phải tính toán kỹ bài toán đầu tư. Có thể, trong bối cảnh vốn chưa đẩy ra được, ngân hàng tranh thủ đầu tư trái phiếu DN tăng hiệu quả vòng quay đồng vốn mà họ huy động.

Hiện tại, lãi suất trái phiếu DN phổ biến 8-10%/năm, nhưng có DN phát hành trái phiếu với lãi suất lên 12-14%/năm. Ông đánh giá thế nào về hiện tượng này?

Thực ra, như bạn biết so với các TCTD, mức độ rủi ro của DN cao hơn. Bởi mức độ minh bạch thông tin, mức độ rủi ro, quản trị DN kể cả việc cơ quan quản lý không chặt chẽ bằng TCTD. Không chỉ với Việt Nam mà ở các nước cũng vậy, mức độ rủi ro của DN cao hơn hệ thống ngân hàng. Mà theo quy luật kinh tế, mức độ rủi ro cao, lãi suất phải cao tương xứng.

Một lý do nữa khiến lãi suất cao là khi DN phát hành trái phiếu tương đương với việc cho vay không có tài sản bảo đảm, nên mức lãi suất phải cao hơn. Ngoài ra, mức lãi suất trái phiếu DN còn tùy thuộc mức độ rủi ro ngành nghề. Chẳng hạn, DN hoạt động ngành nghề tiêu dùng, sản xuất kinh doanh ít rủi ro hơn DN kinh doanh lĩnh vực BĐS…

Dẫu vậy, đây cũng là vấn đề cần được theo dõi sát sao, không để đẩy mặt bằng lãi suất lên quá cao; bởi như thế làm méo mó thị trường lãi suất, và vốn trung dài hạn tập trung quá nhiều từ kênh trái phiếu DN. Trong khi đó mức độ đánh giá rủi ro của các NĐT đối với DN còn hạn chế do thông tin của DN chưa thật sự minh bạch, chính xác. Thêm nữa, việc các DN phát hành trái phiếu nhiều tăng nợ của quốc gia nói chung. Chính vì thế, mới đây, Chính phủ cũng yêu cầu kiểm soát chặt chẽ hơn đối với phát hành trái phiếu DN để không xảy ra hiện tượng gây đột biến về lãi suất.

Theo ông cần thêm giải pháp gì để hạn chế những méo mó trên?

Rõ ràng đó là hiện tượng mới đối với thị trường tài chính, và với DN trong câu chuyện huy động vốn nên chúng ta phải theo dõi đánh giá sát sao qua số liệu thống kê cả DN niêm yết và không niêm yết để đưa ra ngăn chặn cảnh báo kịp thời. Nếu không DN làm ẩu, công bố thông tin thiếu minh bạch, không đạt chuẩn…

Thực ra không phải quá lo, vì hiện tại, người dân, DN cũng như NĐT rất thông minh nên họ không mua trái phiếu của DN sắp phá sản. Điều quan trọng, chúng ta đang rất muốn thị trường trái phiếu phát triển cân bằng hơn với thị trường tài chính tiền tệ, giảm áp lực cấp vốn cho hệ thống ngân hàng. Nên cần có chính sách khuyến khích thị trường này phát triển lành mạnh, hiệu quả thay vì lo lắng quá.

Để vận hành thị trường trái phiếu DN bài bản, phát triển lành mạnh, bền vững hơn, cơ sở dữ liệu thông tin cho thị trường phải được chuẩn hóa. Theo tôi, cần sớm cho phép thành lập tổ chức xếp hạng tín nhiệm DN đánh giá xếp hạng tín nhiệm DN một cách khách quan, công khai minh bạch. Đây là kênh thông tin quan trọng, cho các NĐT tham khảo để đầu tư trái phiếu DN. Thông tin từ tổ chức này còn có thể giúp quản lý nợ quốc gia ở mức độ chuẩn hơn.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.150 23.270 25.629 26.478 28.125 28.576 213,44 221,85
BIDV 23.150 23.270 25.641 26.373 28.143 28.621 217,83 223,39
VietinBank 23.128 23.270 25.611 26.406 28.069 28.709 217,40 223,40
Agribank 23.145 23.250 25.618 26.011 28.138 28.607 217,85 221,85
Eximbank 23.140 23.250 25.621 25.975 28.228 28.619 218,02 221,03
ACB 23.130 23.250 25.640 25.993 28.317 28.625 218,26 221,26
Sacombank 23.110 23.270 25.661 26.120 28.274 28.683 218,04 222,61
Techcombank 23.131 23.271 25.409 26.408 27.912 28.913 21,08 224,40
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.568 26.041 28.246 28.670 218,39 222,40
DongA Bank 23.160 23.250 25.640 25.970 28.210 28.590 215,30 221,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
42.450
42.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
42.450
42.850
Vàng SJC 5c
42.450
42.870
Vàng nhẫn 9999
42.350
42.950
Vàng nữ trang 9999
42.150
42.950