14:10 | 09/01/2018

Đồng yên tăng mạnh so với USD sau động thái của BOJ; euro bị chốt lời

Đồng yên Nhật tăng khá mạnh so với đồng USD trong phiên giao dịch hôm thứ Ba (9/1) sau khi NHTW Nhật cắt giảm mua trái phiếu Chính phủ kỳ hạn dài trong một hoạt động thị trường, thúc đẩy kỳ vọng BOJ sẽ thu lại chính sách kích thích khổng lồ của mình.

Fed có thể tăng lãi suất bao nhiêu lần trong năm 2018?
Thống đốc NHTW Nhật: Không thể tăng lãi suất chỉ vì nền kinh tế cải thiện
ECB giữ nguyên quan điểm chính sách do lo ngại lạm phát yếu

Theo đó, đồng yên tăng 0,4% so với đồng USD lên 112,62 JPY/USD, tăng trở lại từ mức thấp nhất trong 2 tuần là 113,40 JPY/USD.

“Việc làm này của BOJ là động lực cho sự tăng điểm của đồng yên”, Shusuke Yamada - chuyên gia chiến lược ngoại hối Nhật Bản tại bank of America Merrill Lynch cho biết, mặc dù theo ông vẫn còn quá sớm để BOJ làm rõ lập trường của mình về việc thoát khỏi chính sách hiện nay.

Cụ thể, BOJ đã cắt giảm số tiền mua trong trái phiếu chính phủ Nhật có thời hạn còn lại từ 10 đến 25 năm và từ 25 đến 40 năm khoảng 10 tỷ yên (88,39 triệu USD) mỗi loại so với quy mô mua vào tháng trước.

Kể từ khi thông qua chính sách kiểm soát đường lợi năng suất vào năm 2016, BOJ thỉnh thoảng lại điều chỉnh quy mô mua trái phiếu. Các quan chức của BOJ cho biết, những thay đổi này chủ yếu nhằm giữ lợi suất trái phiếu phù hợp với mục tiêu chính sách của BOJ chứ không phải là các gợi ý về chính sách tương lai. Trong khi động thái của phiên thứ Ba được xem chủ yếu là về mặt kỹ thuật, nhưng nó cũng đã gây bất ngờ cho không ít thành viên của thị trường.

Trong khi đó, đồng euro tiếp tục sụt giảm vào thứ 3 sau khi giảm mạnh vào cuối tuần trước do các nhà đầu tư tỏ ra thận trọng sau đợt tăng giá kéo dài một tháng của đồng tiền chung. Hiện đồng euro đang được giao dịch ở mức 1,1956 USD, giảm gần 0,1% sau khi giảm 0,5% vào thứ hai, mức giảm lớn nhất kể từ cuối tháng 10.

Các nhà phân tích cho biết một sự điều chỉnh là không thể tránh khỏi đối với đồng tiền chung sau khi đòng tiền này đã tăng liên tục trong hầu hết thời gian của 2 tháng qua và leo lên gần sát mức đỉnh của năm 2017 là 1,2092 USD, nhờ sự khởi sắc của nền kinh tế khu vực đồng euro.

Các dữ liệu từ Ủy ban Giao dịch Hàng hóa tương lai công bố vào thứ Sáu cho thấy, vị thế nắm giữ dài hạn đồng euro so với USD của các nhà đầu cơ ở Chicago đã đạt mức cao kỷ lục trong tuần vừa qua, cho thấy khả năng chốt lời là rất lớn.

“Đồng euro đang trai qua giai đoạn củng cố sau khi nó đạt đến mức cao trên 1,2 USD. Đặc biệt khi số liệu lạm phát của khu vực đồng Euro được công bố tuần trước yếu hơn dự kiến”, Shinichiro Kadota - chuyên gia kinh tế và tỷ giá tại Barclays nói.

“Nhín về phía trước, triển vọng của thị trường phụ thuộc nhiều hơn vào các yếu tố của Mỹ, chẳng hạn như liệu Fed có tăng lãi suất ba lần hoặc hơn, cũng như tác động của chính sách cải cách thuế”, ông nói.

Trong khi nhiều quan chức Fed cho biết họ kỳ vọng 3 đợt tăng lãi suất trong năm nay thì thị trường vẫn chưa hoàn toàn bị thuyết phục vì lạm phát vẫn còn yếu ớt dù thị trường lao động được thắt chặt.

Trên thực tế, Chủ tịch Fed Atlanta Raphael Bostic - một quan chức có quyền bỏ phiếu quyết định chính sách lãi suất trong năm nay cho biết, Fed chỉ cần tăng lãi suất 2 lần trong năm 2018 do áp lực giá cả yếu.

Những nghi ngờ như vậy đã kéo chỉ số USD giảm xuống gần mức thấp nhất kể từ năm 2015 trong vài tháng qua.

Hiện chỉ số USD đang dừng ở mức 92,239 điểm, sau khi giảm xuống còn 91,751 điểm vào tuần trước, cách không xa mức đáy gần 3 năm là 91,011 điểm thiếp lập hồi tháng 9 năm ngoái và thấp hơn nhiều so với mức đỉnh 102,26 điểm của năm 2017.

Một tâm điểm chú ý nữa của thị trường là cuộc đàm phán giữa Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc, lần tiếp xúc chính thức đầu tiên trong 2 năm, một dấu hiệu cho thấy sự giảm nhiệt căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,20
4,20
4,70
5,20
5,40
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,30
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,00
6,10
6,70
7,00
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
-
0,29
0,29
0,29
5,42
5,42
5,42
6,90
7,10
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.675 22.745 27.667 28.004 30.973 31.469 202,20 206,07
BIDV 22.680 22.750 27.640 27.956 30.995 30.453 202,73 205,77
VietinBank 22.665 22.745 27.674 27.917 30.901 31.334 203,26 205,95
Agribank 22.670 22.745 26.634 27.975 30.015 31.457 202,65 205,89
Eximbank 22.650 22.740 27.617 27.977 31.073 31.478 203,31 205,96
ACB 22.670 22.740 27.613 27.959 31.154 31.466 203,30 205,85
Sacombank 22.667 22.759 27.682 28.041 31.170 31.527 203,34 206,40
Techcombank 22.665 22.755 27.306 28.185 30.723 31.615 201,88 207,21
LienVietPostBank 22.650 22.765 26.585 28.051 31.119 31.534 203,08 206,66
DongA Bank 22.680 22.750 27.090 27.400 30.480 30.930 199,80 202,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.760
36.980
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.760
36.960
Vàng SJC 5c
36.760
36.980
Vàng nhẫn 9999
36.540
36.940
Vàng nữ trang 9999
36.190
36.890