08:52 | 16/10/2015

Đủ cơ sở vững chắc mua ngân hàng yếu kém 0 đồng

Việc NHNN buộc phải mua các ngân hàng yếu kém là giải pháp cuối cùng khi không còn giải pháp nào khả thi hơn trong điều kiện không áp dụng giải pháp phá sản ngân hàng và việc làm này là có cơ sở pháp lý vững chắc.

TS. Trương Văn Phước

TS. Trương Văn Phước - Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia đã khẳng định như vậy khi trao đổi với phóng viên xung quanh việc triển khai thực hiện Đề án co cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 - 2015 theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ.

TS. Phước cho biết, sau gần 4 năm nhìn lại cả quá trình triển khai thực hiện Đề án, dù gặp không ít khó khăn, nhưng hệ thống ngân hàng đã thực hiện theo đúng mục tiêu, lộ trình. Quá trình tái cơ cấu hệ thống các TCTD đã giúp cho dòng vốn đi vào nền kinh tế được phân bổ hiệu quả hơn.

Thưa ông, thực hiện Đề án tái cơ cấu hệ thống các TCTD,  vấn đề thanh khoản được xử lý triệt để đã tạo tiền đề cho việc thực thi chính sách tiền tệ?

Trước hết, có thể thấy vấn đề thanh khoản của hệ thống đã được xử lý rất thành công. Từ trạng thái thiếu thanh khoản, các ngân hàng phải vay mượn lẫn nhau với lãi suất rất cao trên thị trường liên ngân hàng (có thời điểm lãi suất lên tới 15-20%/năm vào cuối năm 2011), đến nay hiện tượng này đã được khắc phục gần như hoàn toàn.

Lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng trong suốt gần 1 năm qua luôn được duy trì ở mức thấp và ổn định (dưới 5%/năm, kỳ hạn qua đêm); tỉ lệ cho vay trên huy động (LDR) của hệ thống các TCTD từ mức rất cao lên tới trên 100% vào thời điểm cuối năm 2011 cũng đã được kéo xuống mức ổn định khoảng 85% trong giai đoạn hiện nay.

Vấn đề thanh khoản được xử lý triệt để đã tạo tiền đề cho việc thực thi chính sách tiền tệ đạt hiệu quả cao hơn, chủ trương giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp của Chính phủ do đó cũng đã dần đi đúng quỹ đạo.

Mặt bằng lãi suất cho vay giảm mạnh xuống mức thấp 8-10%/năm trong giai đoạn hiện nay (từ mức khoảng 20%/năm vào cuối năm 2011) đã góp phần kéo lạm phát xuống mức thấp kỷ lục trong nhiều năm trở lại đây (từ mức trên 18% trong năm 2011 xuống mức khoảng 2% trong 2 năm 2014 và 2015).

Mặt khác, quá trình tái cơ cấu hệ thống các TCTD cũng đã giúp cho dòng vốn đi vào nền kinh tế được phân bổ hiệu quả hơn, đi vào các mục đích sản xuất, kinh doanh đúng chỗ cho mục tiêu phát triển kinh tế.

Việc NHNN thực hiện đồng thời nhiều biện pháp nhằm loại trừ tình trạng sở hữu chéo giữa các TCTD đã nhận được sự đồng thuận cao của xã hội, giúp hoạt động của hệ thống ngân hàng an toàn hiệu quả hơn?

Sở hữu chéo dưới các hình thức khác nhau khá phức tạp. Tái cơ cấu ngân hàng bao giờ cũng đặt trong bối cảnh và điều kiện cụ thể về kinh tế, nguồn lực, pháp lý, thị trường để lựa chọn giải pháp cơ cấu lại các TCTD phù hợp. Xét thấy hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Chính phủ đã đề ra quan điểm cơ cấu lại hệ thống các TCTD trên nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước để bảo đảm sự an toàn, ổn định và tiếp tục tăng trưởng trong quá trình tái cơ cấu.

Việc thực hiện đồng thời nhiều biện pháp nhằm loại trừ tình trạng sở hữu chéo giữa các TCTD thông qua việc hợp nhất, sáp nhập các TCTD có cùng chủ sở hữu trên tinh thần tự nguyện.

Sau sáp nhập, hợp nhất, năng lực tài chính, quản trị, hoạt động của TCTD hợp nhất, sáp nhập được củng cố, tăng cường thông qua các giải pháp cơ cấu lại. Nhờ đó, những giá trị cộng hưởng của sáp nhập, hợp nhất các TCTD không chỉ là xử lý vấn đề sở hữu chéo mà còn góp phần xử lý TCTD yếu kém, những tồn tại, hạn chế của TCTD trước sáp nhập và nâng cao quy mô, năng lực cạnh tranh của TCTD.

Có thể nói, việc quyết liệt thực hiện loại bỏ sở hữu chéo giữa các TCTD là bước đi rất chính xác nhằm giảm rủi ro hệ thống, xử lý và ngăn chặn tình trạng lạm dụng, chi phối trong quản trị, điều hành hoạt động, tạo nên công cụ đắc lực cho việc xử lý nợ xấu, minh bạch hóa quản trị, lành mạnh hóa hoạt động.

Việc NHNN ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về nâng cao hiệu quả hoạt động, chuẩn mực an toàn trong hoạt động của các TCTD như Thông tư 02; Thông tư 06; Thông tư 09 và Thông tư 36,… đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng giúp xử lý, ngăn chặn tình trạng sở hữu chéo, cổ đông/nhóm cổ đông chi phối trong các TCTD.

Tái cơ cấu hệ thống các TCTD đã giúp cho dòng vốn đi vào nền kinh tế được phân bổ hiệu quả hơn

Ông đánh giá thế nào việc NHNN áp dụng mua 0 đồng đối với các NHTMCP yếu kém?

Thời gian qua, NHNN mua lại 3 NHTMCP Xây Dựng, Dầu khí Toàn cầu và Đại Dương với giá 0 đồng/cổ phần bởi vì các ngân hàng đã không còn vốn chủ sở hữu. Các ngân hàng này không còn vốn chủ sở hữu là do kinh doanh thua lỗ và chi phí trích lập dự phòng rủi ro đối với các khoản nợ xấu. Việc NHNN buộc phải mua các ngân hàng yếu kém là giải pháp cuối cùng khi không còn giải pháp nào khả thi hơn trong điều kiện không áp dụng giải pháp phá sản ngân hàng. 

Việc NHNN mua lại một số ngân hàng yếu kém trong thời gian qua là có cơ sở pháp lý vững chắc, cụ thể:

Điều 149 Luật Các TCTD quy định: NHNN có quyền yêu cầu chủ sở hữu tăng vốn, xây dựng, thực hiện kế hoạch tái cơ cấu hoặc bắt buộc sáp nhập, hợp nhất, mua lại đối với TCTD được kiểm soát đặc biệt. NHNN có quyền trực tiếp hoặc chỉ định TCTD khác góp vốn, mua cổ phần của TCTD được kiểm soát đặc biệt trong trường hợp TCTD được kiểm soát đặc biệt không có khả năng thực hiện yêu cầu của NHNN nói trên hoặc khi NHNN xác định số lỗ lũy kế của TCTD đã vượt quá giá trị thực của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ của TCTD được kiểm soát đặc biệt.

Còn trong Quyết định số 48/2013/QĐ-TTg ngày 01/8/2013 về việc góp vốn, mua cổ phần bắt buộc của TCTD được kiểm soát đặc biệt (Quyết định 48). Quyết định 48 giao cho Thống đốc NHNN có thẩm quyền quyết định: Chỉ định TCTD tham gia góp vốn, mua cổ phần hoặc trực tiếp tham gia góp vốn, mua cổ phần của TCTD được kiểm soát đặc biệt.

Thống đốc NHNN cũng là người có thẩm quyền quyết định số vốn mà TCTD được chỉ định hoặc NHNN cần tham gia góp vốn, mua cổ phần, các hình thức góp vốn, mua cổ phần và thời gian thực hiện việc góp vốn, mua cổ phần vào TCTD được kiểm soát đặc biệt.

Bên cạnh đó, Quyết định 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 sau khi đã được Bộ Chính trị và Chính phủ chấp thuận.

Theo đó, sau khi áp dụng các biện pháp bảo đảm khả năng chi trả, TCTD yếu kém được sáp nhập, hợp nhất, mua lại trên cơ sở tự nguyện. Nếu không thể thực hiện được một cách tự nguyện, NHNN sẽ áp dụng các biện pháp sáp nhập, hợp nhất, mua lại trên cơ sở bắt buộc đối với TCTD yếu kém.

Tại Quyết định số 255/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ. Trong giai đoạn hiện nay, chưa áp dụng phá sản TCTD theo quy định của Luật Phá sản để đảm bảo giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Trên quan điểm không phá sản các TCTD, trường hợp TCTD yếu kém không thể tự cơ cấu lại được thì việc NHNN mua lại, tiếp quản toàn bộ TCTD là cần thiết và là giải pháp cuối cùng để bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.

Mục đích NHNN mua lại NHTM yếu kém không vì mục đích kinh doanh mà nhằm mục tiêu bảo đảm sự an toàn, ổn định hệ thống, không để xảy ra đổ vỡ ngân hàng ngoài tầm kiểm soát của nhà nước và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

Thưa ông, để thực hiện Đề án tái cơ cấu hệ thống các TCTD  đạt được mục tiêu như mong muốn, NHNN cần phải tiếp tục thực hiện những vấn đề gì tiếp theo?

Để đảm bảo cho hệ thống các TCTD hoạt động an toàn và hiệu quả hơn, phải tiếp tục nâng cao năng lực quản trị điều hành, tài chính của hệ thống TCTD theo chuẩn mực quốc tế dưới sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Chuẩn mực an toàn hoạt động tiếp tục phải được nâng lên; khuôn khổ pháp lý về tiền tệ và hoạt động ngân hàng cần tiếp tục được hoàn thiện, đặc biệt trong vấn đề xử lý TCTD yếu kém và nợ xấu, trong đó phải khẳng định quyền can thiệp của NHNN để bảo vệ lợi ích của Nhà nước và công chúng; nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ nợ và cổ đông.

Tiếp tục đẩy mạnh quá trình sáp nhập, hợp nhất để hình thành các NHTM có quy mô lớn, năng lực cạnh tranh tốt.

Trong quá trình này, các NHTM Nhà nước và các NHTMCP lớn vẫn sẽ đóng vai trò quan trọng, bởi nguồn nhân lực tốt tham gia quản trị điều hành từ các ngân hàng này sẽ giúp cho quá trình này diễn ra nhanh hơn.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.353 26.224 29.231 29.730 201,36 214,48
BIDV 23.140 23.260 25.429 26.181 29.307 29.873 207,42 214,24
VietinBank 23.129 23.259 25.347 26.182 29.194 29.834 210,50 216,50
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.384 25.735 29.342 29.748 211,89 214,28
ACB 23.130 23.250 25.383 25.733 29.424 29.755 211,75 216,47
Sacombank 23.103 23.263 25.384 25.843 29.391 29.800 210,96 215,50
Techcombank 23.134 23.274 25.144 26.137 29.023 29.937 210,31 217,47
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.317 25.790 29.364 29.801 211,36 215,31
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.730 29.340 29.740 208,30 214,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.670
Vàng SJC 5c
41.400
41.690
Vàng nhẫn 9999
41.390
41.840
Vàng nữ trang 9999
40.870
41.670