09:24 | 12/05/2018

Dự trữ ngoại hối lớn giúp sẵn sàng can thiệp thị trường

Thống kê cho thấy, từ đầu năm đến nay NHNN mua được 10,48 tỷ USD, nâng tổng dự trữ ngoại hối Nhà nước lên con số kỷ lục khoảng 63 tỷ USD.

Đồng Việt Nam ổn định, dự trữ ngoại hối tăng đáng kể
Dự trữ ngoại hối lên mức kỷ lục 57 tỷ USD

Theo các chuyên gia tài chính – ngân hàng, những tháng đầu năm 2018, NHNN đã điều hành đồng bộ và linh hoạt các công cụ CSTT để ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ. Đặc biệt NHNN đã tăng mua ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước; đồng thời trung hòa lượng tiền đưa ra để vừa đảm bảo thanh khoản cho các TCTD, kiểm soát lạm phát.

Theo các chuyên gia, dự trữ ngoại hối Nhà nước ngày càng lớn, giúp dễ dàng can thiệp thị trường khi cần thiết

Cụ thể, trong 4 tháng đầu năm 2018, cùng với xu hướng giảm giá đồng USD trên thế giới, cung cầu ngoại tệ trong nước thuận lợi, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt tỷ giá trung tâm theo sát diễn biến thị trường trong và ngoài nước, kết hợp với điều chỉnh linh hoạt tỷ giá mua ngoại tệ từ TCTD và phối hợp đồng bộ với các công cụ CSTT khác.

Nhờ chính sách điều hành hợp lý, giúp cho thanh khoản thị trường thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời, hệ thống các TCTD mua ròng ngoại tệ từ tổ chức, cá nhân.

Bên cạnh đó, theo thông tin từ một Vụ chức năng của NHNN, từ đầu tháng 2/2018, NHNN bắt đầu triển khai mua ngoại tệ kỳ hạn ngắn nhằm hài hòa tốc độ tăng cung tiền và kiểm soát lạm phát trong khi vẫn thực hiện mục tiêu tăng dự trữ ngoại hối, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng các sản phẩm phái sinh ngoại tệ để phòng ngừa rủi ro tỷ giá.

Theo đó, lũy kế từ đầu năm đến nay NHNN mua được 10,48 tỷ USD, nâng tổng dự trữ ngoại hối Nhà nước lên con số kỷ lục khoảng 63 tỷ USD.

Quan sát diễn biến thị trường có thể thấy, tính đến cuối tháng 4/2018, tỷ giá trung tâm tăng khoảng 0,51%, còn các mức tỷ giá trên thị trường tăng khoảng 0,24 - 0,29% so với cuối năm 2017.

Chia sẻ với thoibaonganhang.vn, một chuyên gia tài chính – ngân hàng, tỷ giá trong nước tăng một phần cũng do đồng USD trên thị trường thế giới bật tăng khá mạnh trở lại trong thời gian gần đây và đã xóa sạch mức lỗ của những tháng đầu năm nhờ lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ tăng cao và kỳ vọng Fed sẽ tăng tiếp lãi suất ngay trong tháng 6 tới. Hiện đồng USD trên thị trường thế giới vẫn đang giao dịch gần sát mức đỉnh 4,5 tháng.

Tuy nhiên, mặc dù đồng USD trên thị trường thế giới biến động khá mạnh, song tỷ giá trong nước chỉ biến động ở mức độ rất nhẹ, và mức tăng nhẹ này của tỷ giá mà hay gọi là ổn định nhưng nhưng không cố định là hoàn toàn hợp lý. “Trước những biến động về thị trường cũng như tình hình kinh tế - chính trị trên thế giới nhưng chúng ta vẫn kiểm soát tốt thị trường trong 4 tháng qua được xem như thành công” – vị chuyên gia trên nói.

Đặc biệt, theo vị chuyên gia này, trong thời gian gần đây, mặc dù tỷ giá trung tâm liên tục được điều chỉnh tăng, song tỷ giá trên thị trường lại giảm. Nguyên nhân chủ yếu do cung ngoại tệ trong nước hiện đang rất dồi dào khi cán cân thương mại thặng dư khá lớn, giải ngân vốn FDI tăng mạnh, kiều hối cũng duy trì tốc độ tăng trưởng khá tốt. "Nếu nhưng những năm trước đây, NHNN có thể phát tín hiệu điều hành để ngăn tỷ giá trị trường ngừng giảm thông qua việc nâng giá mua vào USD của Sở Giao dịch. Tuy nhiên, năm nay chưa thấy NHNN có động thái tương tự. Đó chính là sự khôn ngoan của nhà điều hành khi tận dụng tỷ giá trên thị trường giảm thấp để mua vào ngoại tệ nâng dự trữ ngoại hối Nhà nước và tiết kiệm cho ngân sách".

TS. Nguyễn Trí Hiếu - Chuyên gia tài chính – ngân hàng cũng đánh giá, chính sách điều hành tỷ giá đang có lợi cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam và có lợi cho quốc gia khi dự trữ ngoại hối Nhà nước ngày càng lớn, qua đó có thể giúp can thiệp thị trường khi cần thiết tạo sự ổn định.

Về định hướng điều hành thới gian tới, tại Diễn đàn Toàn cảnh Ngân hàng năm 2018 mới đây, ông Phạm Thanh Hà – Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN) cho biết, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt tỷ giá trung tâm trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ trong và ngoài nước và mục tiêu CSTT, ổn định thị trường ngoại tệ, từ đó tạo điều kiện để tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước khi thị trường thuận lợi.

Đồng thời phối hợp đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT nhằm duy trì chênh lệch lãi suất VND và USD ở mức hợp lý, qua đó góp phần hỗ trợ ổn định tỷ giá và thị trường ngoại tệ, nâng cao vị thế và giá trị VND.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.300 23.390 26.553 26.870 30.062 30.543 205,03 212,15
BIDV 23.305 23.395 26.570 26.902 30.105 30.581 205,23 208,77
VietinBank 23.299 23.394 26.464 26.842 30.026 30.586 205,35 208,75
Agribank 23.295 23.380 26.635 26.970 30.257 30.695 204,93 208,36
Eximbank 23.290 23.390 26.665 27.021 29.269 30.673 205,80 208,55
ACB 23.310 23.390 26.602 27.098 30.273 30.761 205,32 209,15
Sacombank 23.308 23.400 26.731 27.090 30.364 30.728 205,93 208,98
Techcombank 23.280 23.390 26.418 27.157 29.881 30.871 204,36 209,85
LienVietPostBank 23.290 23.390 26.487 26.949 30.191 30.612 205,93 209,63
DongA Bank 23.310 23.390 26.660 27.060 29.240 30.720 204,20 208,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.650
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.630
Vàng SJC 5c
36.490
36.650
Vàng nhẫn 9999
35.000
35.400
Vàng nữ trang 9999
34.550
35.350