10:50 | 14/03/2012

Duy trì sức hấp dẫn của VND

Việc NHNN giảm trần lãi suất huy động (LSHĐ) trong bối cảnh CPI chưa giảm bền vững đã dẫn đến lo ngại tiền sẽ không chảy về ngân hàng.

Nhưng NHNN cho rằng vị thế của VND đang được nâng cao, điều đó làm giảm kỳ vọng lạm phát tăng. Và vấn đề cốt lõi là chính sách tiền tệ (CSTT) không phải nguyên nhân chủ đạo làm tăng lạm phát. Với cách điều hành như hiện nay của NHNN, CSTT lại là biện pháp kiềm chế lạm phát tốt nhất.

Cung tín dụng giảm, CPI vẫn tăng

Cùng với việc giảm trần LSHĐ, NHNN cũng điều chỉnh giảm 1%/năm tương ứng đối với các mức lãi suất điều hành như:
* Lãi suất tái cấp vốn từ 15%/năm xuống 14%/năm;
* Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng từ 16%/năm xuống 15%/năm;
* Lãi suất tái chiết khấu từ 13%/năm xuống 12%/năm.
Các mức lãi suất này cũng được áp dụng từ ngày 13/3/2012.
* Sau công bố của NHNN giảm các mức lãi suất cơ bản, ngày 13/3/2012 lãi suất cho vay trên thị trường mở (OMO) cũng giảm từ 14%/năm xuống 13%/năm.

Có ý kiến băn khoăn về việc LSHĐ giảm trong bối cảnh CPI chưa giảm bền vững, thị trường chứng khoán lại  đang tìm sắc xanh trở lại... sẽ không hấp dẫn người gửi tiền.

Thực tế phản ứng của thị trường hoàn toàn trái ngược với lo ngại này. Ngay sau khi có thông tin NHNN sẽ giảm trần LSHĐ, nhiều người đã đáo hạn sổ tiết kiệm với kỳ hạn gửi dài hơn trước.

Các ngân hàng chủ động điều chỉnh giảm LSHĐ từ ngày 7/3, trước cả tuần so với quyết định giảm trần LSHĐ của NHNN (Thông tư 05/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 13/3). Điều này chứng  tỏ kỳ vọng lãi suất tăng không còn, người dân chấp nhận mặt bằng lãi suất mới.

 

Ảnh: VnExpress

Tính một cách cụ thể, gửi tiết kiệm bằng VND hiện đang rất có lợi so với gửi bằng USD. LSHĐ ngoại tệ cao nhất 2%/năm, cộng với tỷ giá biến động không quá 3%.

Như vậy nếu người dân gửi tiết kiệm ngoại tệ cao nhất cũng chỉ được hưởng lãi 5%/năm. Trong  khi đó với mức lãi suất tiền gửi VND tối đa là13%/năm, người gửi tiền sẽ có lợi nhuận cao gấp hơn 2  lần so với gửi USD. VND đang ngày càng trở nên hấp dẫn, niềm tin vào VND gia tăng, dẫn đến kỳ vọng lạm phát giảm. "Đó cũng là phương châm điều hành chính sách tiền tệ của NHNN" - Thống đốc NHNN nhấn mạnh.

Cùng với việc hạ trần LSHĐ, NHNN đã ban hành Thông tư 03 về cho vay bằng  ngoại tệ theo hướng thắt chặt cho vay ngoại tệ. Lẽõ đương nhiên khi đối tượng vay ngoại tệ bị  thu hẹp, các NHTM cũng sẽ chẳng mặn mà huy động ngoại tệ. Và hệ quả là vị thế của VND lại càng vững chắc.

Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình cho rằng lãi suất đã có thể hạ từ  cuối tháng 2/2012. Nhưng sở dĩ NHNN để đến đầu tháng 3 mới chính thức ban hành văn bản quy định giảm trần LSHĐ là để thị trường có thêm thời  gian kiểm chứng xu hướng giảm của lãi suất.

Có thể nhận thấy ngay từ tháng 8/2011, NHNN đã chủ trương điều hành CSTT linh hoạt,  theo  tín hiệu thị trường nhưng có những biện pháp để "lái" theo hướng thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

NHNN  đã kiểm soát chặt tăng trưởng tín dụng và cung tiền - những yếu tố tác động đến lạm phát. Còn việc những tháng  gần đây, lạm phát có xu hướng tăng, theo các chuyên gia là do giá cả các mặt hàng trong dịp Tết Nguyên đán tăng mạnh và  mới đây áp lực tăng giá của các mặt hàng  năng lượng như xăng dầu, gas. Trong khi, theo công bố của NHNN, tính đến 8/3, tăng trưởng tín dụng giảm khoảng 1,27%, tổng phương tiện thanh toán giảm 0,64%  so với cuối năm 2011. Điều đó cho thấy, việc lạm phát tăng không phải chỉ do chính sách tiền tệ.

Thống đốc cũng khẳng định: NHNN giảm trần LSHĐ không có nghĩa là nới lỏng CSTT. Bởi trên thực tế lạm phát ở Việt Nam gồm 3 cấu phần lớn: cấu phần đầu tiên là điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ, chiếm khoảng 50% yếu tố tác động đến lạm phát trong 20 năm qua. Ví dụ, lạm phát 2011 khoảng 18,85% thì lạm phát lõi biến động khoảng 9% - 9,5%. Phần còn lại phụ thuộc vào 2 yếu tố khác là giá cả bên ngoài thông qua tỷ giá có tác động đến giá cả trong nước và điều hành giá cả trong nước mà chủ yếu là giá lương thực phẩm, năng lượng.

Lạm phát sẽ được kiểm soát ở mức dưới 10%

Thống kê từ NHNN cho thấy:

* Tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các TCTD đến 20/2/2012 ước tăng 1,66% so với tháng trước,  trong đó tiền gửi bằng VND tăng 2,24%,

* Tiền gửi bằng ngoại tệ giảm 0,81%..

Đến ngày 13/3 hàng loạt ngân hàng như ACB, SeABank, OceanBank, TienphongBank, Eximbank, VietinBank... đã  công bố điều chỉnh LSHĐ VND.

* Mức LSHĐ các kỳ hạn  từ 1 đến 12 tháng phổ biến ở 13%/năm.

* Tuy nhiên, ở các kỳ hạn dài từ 13 tháng trở lên thì nhiều ngân hàng áp dụng lãi suất ở mức 12%/năm, thậm chí tại VietinBank kỳ hạn 36 tháng chỉ huy động ở mức 9%/năm; ACB cũng chỉ ở mức 10,9%/năm.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, năm 2012, điều hành CSTT của  NHNN tiếp tục theo hướng chặt chẽ và linh hoạt.

Thống đốc nhận định, việc LSHĐ giảm còn 13%/năm sẽ dẫn đến các NHTM giảm lãi suất cho vay xuống 14,5 - 16,5%/năm. Như vậy NHNN sẽ không chỉ thực hiện được mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô mà còn góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức phù hợp.

Trong buổi làm việc với NHNN hôm 12/3, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát,  nhất là khi các tổ chức xếp hạng tín nhiệm của thế giới đã nâng thêm một bậc tín nhiệm cho Việt Nam. IMF đã đưa ra dự báo tăng trưởng của Việt Nam trong năm nay là 5,5% - 6% và lạm phát từ 9% - 9,5%.

Như vậy, lạm phát trong năm nay không thực sự đáng lo ngại và nằm trong dự báo  của Chính phủ. Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là được phép chủ quan. Điều hành CSTT của NHNN vẫn sẽ tiếp tục chủ động,  thận trọng trước những biến động trên thế giới để có biện pháp đối phó kịp thời.

Nhận định về điều chỉnh giảm  lãi suất của NHNN, TS Nguyễn Thị  Mùi cho rằng, đây là việc tất yếu vì nền kinh tế không thể chịu mãi mức giá vốn cao như vậy. Về lý thuyết,  lãi suất tiền gửi giảm sẽ là tiền đề giảm lãi suất cho vay. Nhưng lãi suất cho vay giảm nhiều hay ít lại phụ  thuộc vào năng lực tài chính cũng như thanh khoản của các ngân hàng. Bởi, đối với ngân hàng thanh khoản tốt thì chủ trương này khá phù hợp. Vì bản thân các NHTM cũng không muốn cho vay với lãi suất cao, khiến khả năng thu hồi vốn giảm,  tăng rủi ro tín dụng. Nhưng đối  với ngân hàng năng lực tài chính không tốt thì đây là vấn đề không nhỏ. Do đó, việc các ngân hàng  chấp hành đúng quy định 13%/năm còn phụ thuộc lớn vào Cơ quan thanh tra giám sát của NHNN. Có như vậy, mới tạo được sự cạnh tranh công bằng cho thị trường cũng như người gửi tiền.

Tin tưởng khả năng kiểm soát lạm phát dưới 10% trong năm  nay, Thống đốc Nguyễn Văn Bình cho rằng, nếu thuận lợi lãi suất sẽ có thể giảm 1% mỗi quý. Nhưng do lạm phát còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố tác động bên ngoài nên, "nếu xu hướng lạm phát tăng lên một cách ổn định thì lãi suất điều hành sẽ tăng lên và ngược lại... Cụ  thể, trong thời điểm này, NHNN  nước sẽ coi mục tiêu kiểm soát lạm  phát của Chính phủ năm nay dưới 10% để điều hành CSTT" - Thống đốc nói.

Thanh Huyền

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.200
41.440
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.200
41.420
Vàng SJC 5c
41.200
41.440
Vàng nhẫn 9999
41.160
41.580
Vàng nữ trang 9999
40.620
41.420