16:28 | 26/04/2012

E dè cổ phiếu thép

Tính từ đầu năm, nhóm cổ phiếu ngành sản xuất và kinh doanh thép đang phục hồi với 12/13 mã tăng giá. Mặc dù vậy, giới chuyên gia vẫn không đánh giá cao tiềm năng của nhóm này khi dự đoán các doanh nghiệp khó có thể đạt kết quả kinh doanh ấn tượng.

"Ngoi" khỏi mệnh giá

Năm 2011 là năm mà ngành thép chịu ảnh hưởng lớn từ sự điều tiết vĩ mô của Chính phủ. Các dự án công từ Trung ương đến địa phương đều bị cắt giảm đầu tư hoặc dừng lại. Bên cạnh đó thị trường bất động sản trầm lắng, thanh khoản kém. Tất cả những điều này khiến đầu ra của ngành thép gặp rất nhiều khó khăn. Về giá, do niềm tin nền kinh tế thế giới sẽ hồi phục và lo ngại giá tăng (giá đầu vào tăng mạnh, điều chỉnh tỷ giá của NHNN), giá thép bất ngờ tăng mạnh từ cuối năm 2010 đến hết quý I năm 2011. Sau đó dưới sự điều tiết của chính sách vĩ mô, nhu cầu thép sụt giảm, tuy nhiên các yếu tố đầu vào vẫn cao, giá thép biến động nhẹ. Tình hình khó khăn vẫn tiếp diễn ở 2 quý cuối năm và nhiều doanh nghiệp đã phải chấp nhận hy sinh lợi nhuận để đẩy nhanh tiêu thụ bằng cách hạ giá bán, do vậy giá thép vào các tháng cuối năm có sự điều chỉnh giảm. Doanh nghiệp ngành thép vì thế hầu như đều không hoàn thành kế hoạch kinh doanh. Sự khó khăn này đã thể hiện rõ trên các sàn giao dịch. Tất cả 13 mã ngành thép (BVG, VGS, HLA, NVC, POM, VIS, KKC, SMC, HSG, KMT, HMC, DTL và DNY) đều rớt giá thảm hại, cá biệt có mã mất hơn 80%, thị giá chỉ còn 2.400 đồng/CP (BVG). Trong nhóm này, số lượng mã rớt dưới mệnh giá cũng khá nhiều, tỷ lệ là 10/13.

Ảnh: BĐT
Thị trường BĐS ảm đạm khiến các DN théo cũng gặp nhiều khó khăn.
(Ảnh: BĐT)

Sang năm 2012, thị trường chứng khoán phục hồi, nhóm cổ phiếu thép cũng tăng theo xu hướng chung với những mã tăng khá mạnh như HSG (tăng 138%), POM, VGS, SMC (tăng trên 80%)… Dù vậy, vẫn còn khá nhiều mã chưa thể vượt trên mức 10.000 đồng/CP, tức chưa thể thoát khỏi "kiếp" cổ phiếu "bèo", tỷ lệ là 5/13.

Khó đột biến về lợi nhuận

Năm 2012, sản lượng tiêu thụ của ngành được dự báo tăng 4%. Tuy nhiên, theo giới chuyên gia mức tăng trưởng này khó có thể đạt được. Nguyên do là tình hình kinh tế thế giới và trong nước vẫn còn nhiều khó khăn. Trong nước, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô vẫn là mục tiêu hàng đầu trong điều hành chính sách vĩ mô. Hơn thế, công cuộc tái cơ cấu kinh tế đang được vận hành, trong đó đầu tư công sẽ tiếp tục được thắt chặt. Mặt bằng lãi suất tuy đã giảm, song vẫn còn cao. Trong khi đó lực cầu vẫn chưa hồi phục, lượng cung vẫn dư thừa nên tình trạng sốt giá sẽ không xảy ra. Bên cạnh đó, tiến độ đầu tư các dự án đầu tư lớn trong ngành thép vẫn triển khai ở tốc độ chậm. Các dự án trong nước như Thép Liên hợp Lào Cai giai đoạn II (Gang Thép Thái Nguyên), Khu Liên hợp thép Hòa Phát giai đoạn II (Tập đoàn Hòa Phát), lò cao Vạn Lợi, lò cao Đình Vũ vẫn đang tiếp tục được tiến hành, tuy nhiên vấn đề tài chính sẽ có thể gây ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành của các dự án này. Các dự án FDI của đối tác nước ngoài hiện tại chỉ có dự án Formosa Hà Tĩnh của Đài Loan đang tiến hành san lấp mặt bằng và tiếp tục triển khai xây dựng trong năm nay. Các dự án thép có quy mô lớn như Dự án thép Quang Liên Khu CN Dung Quất Quảng Ngãi và dự án liên doanh giữa Tata Steel và Tổng công ty Thép Việt Nam vẫn chưa được triển khai.

Trên thế giới, những nước có nhu cầu nhập khẩu thép lớn như Mỹ và Tây Âu đang có xu hướng giảm xuống, khiến cho lượng thép của các nước xuất khẩu (Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản) sẽ dư thừa, giá thép thế giới cũng vì vậy mà khó có khả năng tăng cao. Các nguyên liệu đầu vào cho ngành thép như quặng sắt, than mỡ, than cốc, thép phế, phôi thép… cũng sẽ không biến động mạnh.

Theo nhiều chuyên gia, những khó khăn của năm 2011 dự kiến vẫn tiếp diễn trong năm nay, do vậy ngành thép năm 2012 được đánh giá với triển vọng không mấy khả quan. Các doanh nghiệp trong ngành vì thế khó có thể đạt được kết quả kinh doanh ấn tượng.

Trí Tri

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.650
42.000
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.650
42.000
Vàng SJC 5c
41.650
42.020
Vàng nhẫn 9999
41.600
42.100
Vàng nữ trang 9999
41.200
42.000