10:19 | 08/06/2017

ECB có thể duy trì chính sách “siêu” nới lỏng vì lạm phát yếu

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) được dự báo có thể sẽ giữ nguyên chính sách tiền tệ siêu nới lỏng của mình tại cuộc họp vào thứ Năm do lạm phát trong khu vực đồng tiền chung vẫn thấp hơn mục tiêu mặc dù tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn.

Chủ tịch ECB: ECB vẫn cần kích thích dù tăng trưởng khu vực tốt hơn
Euro giảm mạnh sau khi Chủ tịch ECB nói “kiên nhẫn” với nới lỏng
ECB giữ nguyên chính sách song đã thay đổi quan điểm

Nền kinh tế của khu vực đồng tiền chung đang hoạt động tốt nhất trong một thập kỷ, nhưng Chủ tịch ECB Mario Draghi vẫn chưa tin tưởng rằng sự phục hồi của lạm phát gần đây là bền vững bởi vì tăng trưởng tiền lương vẫn chậm chạp.

Trong bối cảnh này, ECB được dự báo ​​sẽ giữ nguyên chính sách không thay đổi tại cuộc họp chính sách diễn ra hôm thứ Năm, bao gồm chương trình mua vào trái phiếu khổng lồ trị giá 2,3 nghìn tỷ euro và duy trì lãi suất dưới 0, bất chấp sự phản ứng của một số quốc gia, đặc biệt là Đức.

“Chúng tôi kỳ vọng Tuyên bố (của ECB) phát đi vào thứ Năm sẽ nhắc lại rằng “mức độ đặc biệt của chính sách tiền tệ nới lỏng” vẫn còn cần thiết”, Luigi Speranza - một nhà kinh tế học tại BNP Paribas cho biết.

Một số nguồn tin cũng nói với Reuters rằng, ECB có thể sẽ nâng triển vọng tăng trưởng của khu vực, nhưng sẽ cắt giảm dự báo về lạm phát khi đưa ra các dự báo mới cho năm 2017-19.

Sự trái chiều này trong triển vọng kinh tế đã củng cố thêm cho việc giữ nguyên chính sách nới lỏng của ECB, bao gồm cả cam kết cắt giảm lãi suất hơn nữa nếu cần thiết để đưa lạm phát trở lại mục tiêu của ngân hàng trung ương là 2%.

Trong số các yếu tố khác cũng làm cho ECB thận trọng là những khoản nợ lớn của các chính phủ và các công ty, các khoản nợ quá hạn đang đè nặng lên hệ thống ngân hàng ở ác nước như Ý và Bồ Đào Nha, và sự không chắc chắn về chính trị trước các cuộc bầu cử ở Đức và Ý.

“Nó làm tăng khả năng ECB sẽ không thay đổi lời lẽ của những chỉ dẫn chuyển tiếp tại cuộc họp này”, các nhà kinh tế tại Nomura viết trong một bản tin cho khách hàng.

Một số nguồn tin cũng nói với Reuters hồi tuần rằng, ECB sẽ thừa nhận triển vọng kinh tế được cải thiện bằng cách loại bỏ tham chiếu đến “rủi ro suy giảm” trong tuyên bố của mình.

Tuy nhiên, bất kỳ thông báo nào về chương trình nới lỏng định lượng (QE) có thể sẽ được hoãn lại cho đến mùa thu, khi các nhà hoạch định chính sách hy vọng bức tranmh kinh tế sẽ trở nên rõ ràng hơn. Chương trình mua sắm tài sản sẽ tiếp tục ít nhất đến tháng 12 với tốc độ 60 tỷ euro mỗi tháng.

“Chúng tôi vẫn mong đợi sẽ đạt được một thỏa hiệp, có nghĩa là sẽ có thêm QE vào năm tới, nhưng tốc độ hàng tháng sẽ giảm”, các nhà kinh tế tại Societe Generale cho biết. “Mặc dù phụ thuộc vào dữ liệu, chúng tôi cũng mong đợi cắt giảm thêm 10 tỷ euro hàng quý, kết thúc QE vào tháng 9/2018”.

Sau khi thất bại trong việc huy động vốn trên thị trường, Popolare di Vicenza và Veneto Banca đã xin trợ cấp của chính phủ, vì họ cần ECB và Ủy ban Châu Âu phê duyệt.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
7,00
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,70
4,70
4,90
5,60
5,80
6,40
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
5,50
5,70
6,80
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.690 22.760 25.170 25.497 28.491 28.947 201,12 204,96
BIDV 22.690 22.760 25.227 25.453 28.696 28.957 203,05 204,86
VietinBank 22.680 22.760 25.148 25.430 28.494 28.935 201,66 204,67
Agribank 22.680 22.760 25.123 25.448 28.516 28.959 201,70 204,93
Eximbank 22.660 22.760 25.133 25.460 28.586 28.959 202,52 205,16
ACB 22.690 22.760 25.149 25.465 28.677 28.963 202,57 205,11
Sacombank 22.680 22.763 25.178 25.536 28.661 29.026 202,47 205,55
Techcombank 22.680 22.770 24.942 25.521 28.324 28.991 201,28 205,95
LienVietPostBank 22.670 22.760 24.930 25.467 28.672 28.964 200,75 205,13
DongA Bank 22.690 22.760 25.170 25.460 28.630 28.980 202,40 205,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.170
36.390
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.170
36.370
Vàng SJC 5c
36.170
36.390
Vàng nhẫn 9999
34.490
34.890
Vàng nữ trang 9999
34.190
34.890