11:00 | 11/11/2019

EU tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2013

Trong báo cáo Triển vọng kinh tế khu vực mới nhất của mình, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực tế của châu Âu chỉ tăng trưởng 1,4% trong năm nay trước khi tăng trở lại mức 1,8% vào năm 2020. Đây là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2013, giảm mạnh từ mức 2,3% trong năm 2018.

Tại các nền kinh tế lớn nhất của lục địa già, sự phục hồi dự kiến sẽ còn khiêm tốn hơn, chỉ tăng nhẹ từ 1,3% trong năm 2019 lên 1,5% vào năm 2020 nhờ vào nhu cầu toàn cầu tăng. Tuy nhiên theo IMF, triển vọng phục hồi thương mại toàn cầu không mạnh như 6 tháng trước. Đặc biệt các yêu tố dẫn tới sự yếu kém trong trong sản xuất và thương mại của các nền kinh tế phát triển châu Âu có thể sẽ tiếp tục.

“Chi tiêu vốn và hàng hóa tiêu dùng lâu bền của châu Á giảm mạnh có thể sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến xuất khẩu và tăng trưởng của châu Âu do khu vực này là nhà xuất khẩu lớn về tư liệu sản xuất và thiết bị vận tải”, Báo cáo của IMF cho biết. Mặc dù nhu cầu vững chắc tại Mỹ - một đối tác thương mại lớn của nhiều quốc gia châu Âu – đã làm giảm bớt phần nào những tác động tiêu cực; thế nhưng tăng trưởng kinh tế Mỹ cũng được dự kiến sẽ giảm tốc độ.

Ảnh minh họa

Đặc biệt ngành ôtô có thể tiếp tục chịu áp lực lớn do thị trường có dấu hiệu bão hòa, trong khi Trung Quốc thắt chặt các tiêu chuẩn khí thải và người tiêu dùng có xu hướng chuyển sang xe điện. Điều này sẽ có tác động đặc biệt tiêu cực đối với những quốc gia như Đức và Slovakia.

Theo IMF, sự chậm lại của sản xuất công nghiệp và thương mại, kết hợp với sự không chắc chắn liên quan đến thương mại và Brexit, đã bắt đầu tác động đến đầu tư cố định ở một số quốc gia. Mặc dù vậy, tiêu dùng tư nhân và khu vực dịch vụ trên khắp lục địa vẫn mạnh, được hỗ trợ bởi thị trường lao động mạnh mẽ đã giúp bù đắp một số tác động tiêu cực từ bên ngoài.

Tuy nhiên, báo cáo kết luận rằng sản xuất và thương mại của châu Âu đã suy yếu đáng kể. “Đã xuất hiện một số dấu hiệu về sự suy yếu nhu cầu trong nước, đặc biệt là trong đầu tư. Mặc dù đến nay, dịch vụ và chi tiêu tiêu dùng vẫn phục hồi, nhưng mức độ phục hồi của các lĩnh vực này sẽ phụ thuộc vào sự phát triển trong thị trường lao động”, báo cáo đã nêu rõ.

Cụ thể, IMF đã hạ dự báo tăng trưởng của các nền kinh tế tiên tiến châu Âu 0,1 điểm phần trăm trong cả năm 2019 và 2020, trong đó sự điều chỉnh mạnh hơn ở các nền kinh tế thiên về sản xuất công nghiệp như Đức; trong khi dự báo tăng trưởng ở các nền kinh tế mới nổi châu Âu lại được điều chỉnh tăng 0,5 và 0,2 điểm phần trăm.

Chẳng hạn, tăng trưởng Thổ Nhĩ Kỳ dự kiến sẽ phục hồi mạnh từ mức 0,2% trong năm 2019 lên 3,0% vào năm 2020 khi những bất ổn kinh tế trong quá khứ đã được xử lý. “Tại Thổ Nhĩ Kỳ, sự điều chỉnh tăng trưởng lớn phản ánh kết quả tốt hơn mong đợi trong nửa đầu năm nay”, báo cáo lý giải.

Đất nước này đã rơi vào suy thoái trong năm nay, nhưng đã tăng trưởng trở lại nhờ vào chính sách tài khóa mở rộng, đẩy mạnh tín dụng từ các ngân hàng quốc doanh và nới lỏng chính sách tiền tệ.

Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế Nga cũng được dự kiến sẽ tăng từ mức 1,1% trong năm 2019 lên 1,9% vào năm 2020 nếu các dự án quốc gia theo kế hoạch được thực hiện thành công.

Tăng trưởng ở các nền kinh tế mới nổi khác ở châu Âu được dự báo sẽ ở mức vừa phải, lần lượt là 3,7% và 3,1% trong năm 2019 và 2020, do tác động lan tỏa từ sự suy giảm ở các nền kinh tế tiên tiến trên lục địa.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.200
41.490
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.200
41.470
Vàng SJC 5c
41.200
41.490
Vàng nhẫn 9999
41.180
41.630
Vàng nữ trang 9999
40.670
41.470