09:48 | 06/12/2018

Fed công bố báo cáo kinh tế: Kỳ vọng lãi suất chỉ tăng một lần năm 2019

Hôm thứ Tư vừa qua, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã cho công bố báo cáo kinh tế với tên gọi quen thuộc Beige Book.

TIN LIÊN QUAN
Fed có thể chậm lại lộ trình tăng lãi suất
Fed có thể tăng lãi suất thêm bao nhiêu lần nữa?
Chủ tịch Fed: Kinh tế Mỹ thực sự mạnh, nhưng có lo ngại

Xuất bản trước khoảng 2 tuần kỳ họp cuối năm của Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC), được dự kiến sẽ ra quyết sách tăng lãi suất lần cuối cùng trong năm 2018, báo cáo cho biết hầu hết 12 khu vực của Fed  đều có mức tăng trưởng chậm lại đáng kể từ giữa tháng 10 đến cuối tháng 11.

Trong đó, Dallas và Philadelphia ghi nhận sự tăng trưởng chậm hơn; St. Louis và Kansas City chỉ tăng nhẹ.

Thực tế, báo cáo Beige Book dù vẫn ghi nhận sự tăng trưởng kinh tế của các khu vực, nhưng cũng đã bắt đầu lưu ý những thách thức đang ở trước mắt.

Về các diễn biến tích cực, báo cáo cho biết chi tiêu của người tiêu dùng ổn định, tốc độ tăng trưởng ngành du lịch vẫn tiếp tục và căng thẳng thuế quan xảy ra mà sản xuất vẫn không bị ảnh hưởng.

Tuy nhiên, đã có một số diễn biến tiêu cực xuất hiện, như lượng nhà xây mới và doanh số bán nhà có xu hướng giảm, dư nợ cho vay tăng trưởng khiêm tốn…

Trong khi đó, thị trường lao động vẫn ghi nhận nhu cầu tuyển dụng cao so với nguồn cung, đáng chú ý là ở khu vực Chicago.

Điều đó là tốt cho người lao động. Tăng trưởng tiền lương có xu hướng lên cao hơn. Các công ty cũng đang tăng cường các lợi ích phi lợi nhuận, bao gồm lợi ích sức khỏe, chia sẻ lợi nhuận, tiền thưởng và ngày nghỉ có lương.

Tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ đã loại trừ yếu tố mùa vụ cho thấy đang ở mức thấp nhất trong vòng gần 50 năm nay.

Về giá cả nói chung, báo cáo Beige Book đã gợi ý về lợi nhuận thu hẹp, khi chi phí đầu vào tăng nhanh hơn giá hàng hóa cuối cùng.

Nhưng nhìn tổng thể, báo cáo Beige Book phù hợp với kỳ vọng rằng Fed sẽ tiếp tục tăng dần lãi suất.

“Với triển vọng tăng trưởng mạnh mẽ, thị trường lao động mạnh mẽ và lạm phát gần mục tiêu của chúng tôi, đồng thời xem xét tất cả các rủi ro khác, tôi hy vọng việc tăng dần lãi suất sẽ là giải pháp tốt nhất hỗ trợ cho sự mở rộng kinh tế bền vững”, Chủ tịch Fed New York, John Williams cho biết hôm thứ Ba.

Đề cập đến năm 2019, Williams cho biết tăng trưởng sẽ chậm lại nhưng chỉ một chút, với khoảng 2,5% từ gần 3% trong năm nay. Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm nhẹ xuống dưới 3,5% trong năm tới. Lần cuối cùng tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn 3,5% là vào tháng 7/1969.

Lạm phát sẽ chỉ tăng cao hơn một chút so với mục tiêu 2% của Fed. “Quan trọng là tôi không thấy bất kỳ dấu hiệu của áp lực lạm phát lớn hơn ở tầm nhìn trước mắt,” Williams nói.

Theo đo đếm từ công cụ FedWatch của CME Group, tính toán xuất phát từ các giao dịch tương lai, thì các nhà đầu tư cho rằng có đến 85% khả năng Fed sẽ tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 12 này.

Williams cho biết ông khá cẩn trọng trước các dấu hiệu cho thấy nền kinh tế có thể chậm hơn dự kiến, nhưng dự báo ban đầu của ông là “vẫn rất tích cực”.

“Nhìn về phía trước có thể thấy những rủi ro," ông nói. “Nhưng không phải tất cả các rủi ro đều đi kèm bất lợi”. Theo Williams, lạm phát có nhiều khả năng sẽ tăng nhanh hơn mong đợi.

Nhưng, thị trường đã có những nghi ngờ ngày càng tăng về sức khỏe của nền kinh tế Mỹ, và chỉ nhìn thấy khả năng một lần tăng lãi suất nữa trong năm 2019, thay vì khả năng tăng lãi suất 3 lần trong năm tới được đưa ra vào tháng 9 vừa qua.

Những lo ngại về triển vọng kinh tế kém tươi sáng hơn đã đẩy lãi suất trái phiếu kho bạc 10 năm giảm xuống dưới 3% trong tuần này, mức thấp nhất kể từ đầu tháng 9.

Chốt phiên ngày thứ Tư, chỉ số công nghiệp Dow Jones, S&P 500, Nasdad đều giảm trên 3%.

Tương tự, các chỉ số chứng khoán chính của châu Âu và châu Á cũng đồng loạt giảm, nhưng ở mức độ thấp hơn.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.260 23.350 26.270 26.742 28.947 29.410 199,90 206,97
BIDV 23.260 23.350 26.255 26.619 28.950 29.408 203,65 207,15
VietinBank 23.252 23.352 26.242 26.747 28.922 29.482 203,69 207,44
Agribank 23.255 23.340 26.259 26.611 28.976 29.414 203,71 207,22
Eximbank 23.250 23.350 26.277 26.628 29.068 29.456 204,51 207,24
ACB 23.270 23.350 26.297 26.635 29.166 29.468 204,71 207,35
Sacombank 23.264 23.356 26.328 26.690 29.141 29.496 204,58 207,66
Techcombank 23.240 23.350 26.036 26.755 28.742 29.562 203,15 208,43
LienVietPostBank 23.250 23.350 26.319 26.779 29.455 29.871 205,05 208,75
DongA Bank 23.270 23.350 26.300 26.610 29.070 29.430 203,00 207,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.340
36.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.340
36.500
Vàng SJC 5c
36.340
36.520
Vàng nhẫn 9999
35.220
35.620
Vàng nữ trang 9999
34.870
35.570