10:55 | 13/10/2017

Fed nên “bảo vệ” mục tiêu lạm phát hoặc có nguy cơ mất uy tín

Fed cần phải bảo vệ rõ ràng mục tiêu lạm phát 2% của mình và ngừng tăng lãi suất cho đến khi lạm phát tăng lên, Chủ tịch Fed St Louis, ông James Bullard, cho biết hôm thứ Năm (12/10).

Bất đồng về lạm phát, song Fed vẫn muốn tăng tiếp lãi suất trong năm nay
Nhiều quan chức Fed tin tưởng tăng lãi suất do thất nghiệp giảm mạnh
Thất nghiệp giảm mạnh, tiền lương tăng nhanh hỗ trợ Fed tăng lãi suất
Chủ tịch Fed St Louis James Bullard (bên phải) trả lời phỏng vấn Reuters

Phát biểu trong cuộc phỏng vấn với Reuters, Chủ tịch Fed St Louis James Bullard cho biết, Fed có nguy cơ mất uy tín, và có thể gây ra một cuộc suy thoái, nếu nó tiếp tục cố tình theo đuổi việc “bình thường hóa” chính sách tiền tệ và tăng lãi suất cao hơn mà không có bằng chứng tốt hơn cho thấy giá cả đang củng cố.

“Nếu bạn có một mục tiêu lạm phát, bạn nên bảo vệ nó. Nếu bạn nói rằng bạn sẽ đạt được mục tiêu lạm phát thì bạn nên cố gắng đạt được nó và duy trì sự tín nhiệm”, Bullard nói.

Bullard cho biết, việc thước đo lạm phát ưa thích của Fed sụt giảm liên tục trong năm nay có nghĩa là “chúng ta ít nhiều đã mất tất cả những tiến bộ mà chúng ta đã đạt được trong hai năm qua” trong việc thúc đẩy lạm phát hướng tới mục tiêu 2%. Trong bối cảnh sso, việc tiếp tục tăng lãi suất “có thể phát đi tín hiệu cho các thị trường rằng mục tiêu lạm phát không quan trọng”.

Thước đo lạm phát ưa thích của Fed đã giảm từ mức 1,7% trong tháng 4 xuống còn 1,4% vào tháng 6, tháng 7 và tháng 8.

Bullard - người không có quyền biểu quyết về chính scahs tiền tệ của Fed cho đến năm 2019 - cho biết, việc các đồng nghiệp của ông đổ lỗi cho các yếu tố “một lần” như sự giảm giá của nhiều loại hàng hóa dịch vụ đã khiến cho lạm phát sụt giảm là đã quá “cắt nhỏ” phân tích của họ, và họ nên nhìn vào thực tế phát triển công nghệ hiện nay hoặc một số yếu tố khác đang kiềm chế giá cả.

Luồng quan điểm cho rằng sự yếu đi của lạm phát gần đây chủ yếu do các yếu tố tạm thời hiện vẫn đang là quan điểm chi phối tại Fed, với thủ phạm chính là sự giảm giá điện thoại di động và chi phí y tế tăng chậm lại.

“Có thể nó là tạm thời, nhưng có thể điều này sẽ quay trở lại. Những gì tôi muốn nói là cần phải có bằng chứng cụ thể... Điều này đang đi sai hướng. Và nó không phù hợp với những điều mà Ủy ban (FOMC) đã nói, “lạm phát đạt được mục tiêu của Fed trong” trung hạn”.

“Nếu ủy ban tiếp tục tăng lãi suất rất có thể sẽ biến thành một sai lầm chính sách ... Tôi nghĩ rằng lạm phát có thể giảm thấp hơn thay vì cao hơn. Tôi nghĩ rằng một sự hiểu nhầm về mức lãi suất cần có trong bối cảnh hiện nay có thể gây ra suy thoái kinh tế nếu nó được thực hiện một cách cực đoan”.

Nhận xét của Bullard tiếp tục cho thấy sự chia rẽ trong Fed về triển vọng lạm phát, cũng như cho thấy vấn đề đang khiến các nhà hoạch định chính sách trên khắp thế giới lo lắng và buộc phải nghiên cứu và có thể xem xét lại cách thức giá cả được thiết lập trong thế giới hậu khủng hoảng.

Bullard đã hoàn toàn đảo ngược quan điểm của ông về lạm phát cách đây hơn một năm, khi ông chuyển từ nhóm những quan chức ủng hộ mạnh mẽ việc bình thường hóa lãi suất sang ôn hòa hơn.

Cuộc tranh cãi tại Fed diễn ra đúng vào thời điểm chính quyền của Trump đang cân nhắc nhân sự cho vị trí Chủ tịch Fed kế tiếp, khi nhiệm kỳ của bà Yellen sẽ kết thúc vào tháng 2/2018. Hiện bên cạnh Chủ tịch Fed đường nhiệm, bà Janet Yellen, còn có 3 gương mặt sáng giá khác là Thống đốc Fed Jerome Powell, cựu Thống đốc Fed Kevin Warsh và Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia Gary Cohn.

Biên bản cuộc họp tháng 9 của Fed và các phát biểu gần đây của các quan chức Fed đã cho thấy cuộc tranh luận về lạm phát trong Fed là khá căng giữa những quan chức lo lắng lạm phát có thể bị kẹt lâu dài, với những người cảm thấy nó không quan trọng và lãi suất cần phải cao hơn trong bối cảnh nền kinh tế mạnh.

Chủ tịch Janet Yellen cũng đã công khai thừa nhận Fed có thể đã đánh giá sai các yếu tố then chốt của những gì đang diễn ra trên thị trường việc làm. Thống đốc Fed Lael Brainard hôm thứ Năm cũng nhắc nhở rằng một cách tiếp cận mới đối với lạm phát có thể giúp cho suy thoái trong tương lai nhưng có nguy cơ gây ra sự biến động của thị trường lớn hơn.

Mặc dù vậy, Biên bản cuộc họp chính sách tháng 9 của Fed cho thấy, đa số các thành viên của FOMC cho rằng một lần tăng lãi suất nữa trong năm nay “vẫn được bảo đảm”, thậm chí một số quan chức còn cho rằng điều kiện tài chính tiếp tục lỏng lẻo có nghĩa là Fed có thể đẩy lãi suất ngắn hạn cao hơn mà không có nguy cơ làm chậm nền kinh tế.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,40
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,80
4,80
4,90
6,00
6,10
6,70
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.745 22.815 27.990 28.353 31.967 32.479 209,41 216,91
BIDV 22.745 22.815 27.991 28.313 31.997 32.478 209,76 212,90
VietinBank 22.738 22.818 27.940 28.318 32.957 32.517 209,62 213,02
Agribank 22.730 22.805 27.998 28.328 31.348 32.789 210,47 213,77
Eximbank 22.730 22.820 27.973 28.337 32.087 32.504 210,47 213,21
ACB 22.750 22.820 27.982 28.332 32.196 32.518 210,47 213,11
Sacombank 22.741 22.833 28.035 28.389 32.197 32.552 210,46 213,53
Techcombank 22.725 22.825 27.638 28.366 31.948 32.810 208,73 214,25
LienVietPostBank 22.730 22.830 27.931 28.398 32.144 32.570 210,17 213,83
DongA Bank 22.750 22.820 27.990 28.310 32.090 32.470 209,00 212,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.850
37.050
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.850
37.030
Vàng SJC 5c
36.850
37.050
Vàng nhẫn 9999
36.920
37.320
Vàng nữ trang 9999
36.480
37.080