09:02 | 25/04/2019

Fed ứng xử thế nào với việc lãi suất tăng cao

Hiện lãi suất quỹ Fed thực tế đã nhích lên mức cao nhất trong 11 năm mặc dù NHTW Mỹ đã gửi một thông điệp rõ ràng rằng nó đã hoàn thành chính sách thắt chặt.

Nhiều quan chức Fed phản đối quan điểm nới lỏng
Chuyên gia Moody: Fed không cần vội vã cắt giảm lãi suất
Fed thay đổi lớn quan điểm điều hành lãi suất trong 2019

Lãi suất thực tế tăng cao

Trong những ngày gần đây, lãi suất quỹ Fed thực tế, lãi suất mà các ngân hàng tính toán với nhau cho các khoản vay mượn qua đêm, đã tăng lên tới 2,44%. Đó là mức cao nhất kể từ tháng 3/2008 và thấp hơn 6 điểm cơ bản so với mức đỉnh trong phạm vi mục tiêu của Fed và gần với mức đỉnh nhất kể từ tháng 12/2018, khi Fed tăng lãi suất lần cuối cùng.

Ảnh minh họa

Hiện diễn biến này được xem là không có vấn đề gì đặc biệt khi vẫn còn khoảng cách giữa lãi suất cho vay qua đêm thực tế và mức đỉnh của phạm vi 2,25% - 2,5% trong đó lãi suất được phép giao dịch. Nhưng nó có thể sẽ là một chủ đề thảo luận tại cuộc họp của Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) vào tuần tới.

Khi lần đầu tiên bắt đầu tăng lãi suất vào tháng 12/2015, Fed đã thành công trong việc giữ lãi suất thực tế dao động xung quanh điểm giữa của phạm vi mục tiêu. Nhưng điều đó đã thay đổi trong năm qua.

“Mặc dù chỉ cách đỉnh 6 điểm cơ bản, song lãi suất vẫn còn trong phạm vi mục tiêu. Câu hỏi đặt ra là liệu họ có nghĩ rằng áp lực kỹ thuật đang thúc đẩy điều này hay không”, Lou Crandall - nhà kinh tế trưởng tại Wrightson ICAP và là cựu quan chức của Fed New York cho biết. “Mối quan tâm duy nhất hiện nay là liệu có phải điều chỉnh kỹ thuật trong tương lai để ngăn không cho nó (lãi suất thực tế) tăng lên hay không”.

Trong năm 2018 FOMC đã phải hai lần phê duyệt tăng lãi suất dự trữ dư thừa (IOER) 20 điểm cơ bản lên 2,4%. IOER nói chung đã được tăng lên cùng lúc với lãi suất quỹ Fed và đã đóng vai trò như một rào cản chống lại sự gia tăng lãi suất chuẩn. Việc tăng IOER là nhằm mục đích kiềm chế sự gia tăng của lãi suất quỹ Fed khi nó đạt đến giới hạn trên của phạm vi mục tiêu.

Tuy nhiên, lãi suất quỹ Fed lần đầu tiên hiện đang giao dịch trên IOER, về mặt kỹ thuật được đặt làm sàn cho lãi suất quỹ Fed thực tế nhưng thường hoạt động như một mức trần. FOMC có thể xem xét điều chỉnh khác đối với lãi suất quỹ Fed vào tuần tới, mặc dù tại thời điểm này điều đó là không thể.

Lý do khiến lãi suất quỹ Fed tăng lên trên IOER vẫn đang là một bí ẩn, mặc dù các quan chức Fed cho rằng lợi suất cao hơn trên các thị trường repo ngược đã đẩy lãi suất quỹ Fed lên cao. Trong khi một số thành viên thị trường cho rằng chương trình giảm bảng cân đối của Fed cũng có thể gây áp lực lên lãi suất.

Fed sẽ phản ứng thế nào?

Tuy nhiên, cho đến nay, các quan chức vẫn không quan tâm nhiều đến lãi suất quỹ Fed thông qua IOER. “Chừng nào mà lãi suất quỹ Fed vẫn tương đối ổn định và chỉ cao hơn một chút so với IOER, chúng tôi không thấy có vấn đề gì đáng quan ngại”, Lorie K. Logan - Phó chủ tịch cấp cao của Fed New York cho biết trong bài phát biểu vào tuần trước.

Các chiến lược gia tại Bank of America Merrill Lynch (BofAML) cũng cho rằng không có nhiều khả năng Fed sẽ điều chỉnh IOER chỉ với diễn biến hiện nay. “Sự gia tăng lãi suất quỹ Fed gần đây đã thúc đẩy sự suy đoán rằng Fed có thể sớm xem xét việc giảm IOER, có thể tại cuộc họp tháng 5 tuần tới”, Mark Cabana và Olivia Lima - các chiến lược gia của BofAML cho biết trong một lưu ý. “Chúng tôi nghĩ rằng điều này là sớm. lãi suất quỹ Fed có thể tiếp tục tăng lên và duy trì ở mức 2,45% trước khi Fed nghiêm túc xem xét về vấn đề này”.

Việc điều chỉnh IOER có thể là một tình huống bất thường đối với Fed. Trong hai lần điều chỉnh kỹ thuật trước đó, Fed đã tăng lãi suất quỹ Fed 25 điểm cơ bản, trong khi IOER chỉ tăng 20 điểm cơ bản. nay Fed dự kiến sẽ không tăng tiếp lãi suất nên không rõ IOER sẽ được điều chỉnh thế nào.

Bên cạnh đó, hiện Fed được cho là đang “đi trên dây” với chính sách tiền tệ nên bất kỳ sự bất thường nào chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý. FOMC đã phát đi tín hiệu rằng họ sẽ không tăng lãi suất và họ cũng đặt ra thời hạn để tạm dừng việc giảm bảng cân đối kế toán. Tuy nhiên thông tin xung quanh việc bình thường hóa chính sách của Fed vốn rất hỗn tạp. Còn nhớ hồi cuối năm ngoái thị trường đã bị bán tháo sau khi Chủ tịch Fed Jerome Powell phát đi tín hiệu là chính sách tiền tệ có thể tiếp tục thắt chặt thêm. Tuy nhiên bước vào đầu năm nay, quan điểm của Fed đã thay đổi 180o.

Trong khi đó, Kevin Ferry – một “cựu chiến binh” trên thị trường trái phiếu cho biết, diễn biến hiện tại của lãi suất quỹ Fed có lẽ chỉ mang tính kỹ thuật về bản chất. Nhưng sẽ là bất thường nếu lãi suất tăng lên trong khi hầu hết các nhà giao dịch kỳ vọng nó thấp hơn và vì Fed đã trở nên ôn hòa hơn. Vì thế nếu lãi suất quỹ Fed tiếp tục tăng, ông dự đoán Fed sẽ phải điều chỉnh IOER.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.370
41.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.370
41.590
Vàng SJC 5c
41.370
41.610
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.760
Vàng nữ trang 9999
40.790
41.590