10:09 | 28/09/2019

Giá dịch vụ giáo dục và khai giảng đẩy CPI tháng 9 tăng 0,32%, cao nhất 4 tháng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2019 tăng 0,32% so với tháng trước, mức tăng cao nhất trong vòng 4 tháng gần đây, theo thông tin vừa được Tổng cục Thống kê công bố sáng nay, 28/9.

Tổng cục Thuế đề xuất điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh khi CPI biến động trên 20%
Phối hợp điều hành để kiểm soát lạm phát
Lạm phát và những kịch bản sốc
Lạm phát 2019 sẽ xoay quanh mức 2,5%

Trước đó, cũng theo Tổng cục Thống kê, CPI các tháng 6, 7 và 8 tăng so tháng trước lần lượt là -0,09, 0,18 và 0,28. Như vậy, diễn biến CPI theo tháng đang có xu hướng tăng.

Đống góp vào con số tăng CPI tháng này có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có CPI tăng trong tháng Chín, trong đó chủ yếu do tăng giá dịch vụ giáo dục, giá gạo, thịt lợn và các mặt hàng phục vụ năm học mới…

Trong đó, nhóm giáo dục tăng cao nhất với 3,15% (dịch vụ giáo dục tăng 3,53%) làm CPI chung tăng 0,18% do trong tháng có 50 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện lộ trình tăng học phí cho năm học mới.

Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,56%, trong đó lương thực tăng 0,3% do giá gạo tăng ở một số địa phương bị ảnh hưởng của mưa lũ; thực phẩm tăng 0,76%. Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,13%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,12%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,09% do nhu cầu sắm sửa quần áo và giày dép cho năm học mới...

Hai nhóm có chỉ số giá giảm là: nhóm giao thông giảm 1,24% do giảm giá xăng dầu; nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,01% (dịch vụ y tế giảm 0,06%).

Đáng chú ý, CPI bình quân 9 tháng năm 2019 tăng 2,5% so với bình quân cùng kỳ năm 2018. Biểu đồ CPI bình quân qua các tháng trong năm nay cho thấy xu hướng giảm trong 5 tháng gần đây. Có thể khẳng định chỉ tiêu này sẽ đạt mục tiêu đặt ra cho năm nay (tăng dưới 4%).

CPI 9 tháng năm 2019 tăng so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân nhưng chủ yếu là từ điều chỉnh giá một số hàng hóa, dịch vụ nhà nước quản lý giá: (i) Giá điện sinh hoạt điều chỉnh tăng từ ngày 20/3/2019 theo Quyết định số 648/QĐ-BCT của Bộ Công Thương cùng với nhu cầu tiêu dùng điện tăng vào dịp Tết và thời tiết nắng nóng trong quý II/2019 và quý III/2019 làm cho giá điện sinh hoạt 9 tháng năm 2019 tăng 7,69% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng 0,18%); (ii) Các địa phương điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế theo Thông tư số 13/2019/TT-BYT ngày 5/7/2019 và Thông tư số 37/2018/TT-BYT ngày 30/11/2018 của Bộ Y tế làm chỉ số giá nhóm dịch vụ y tế tăng 3,36% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng 0,13%); (iii) Chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục tăng 6,73% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng 0,35%) do một số địa phương điều chỉnh tăng học phí trong năm học mới.

Ngoài ra, CPI 9 tháng tăng còn do: (iv) Giá các mặt hàng thực phẩm tăng 4,21%, trong đó giá thịt lợn tăng 8,04% (làm cho CPI chung tăng 0,34%); dịch vụ giao thông công cộng tăng 3,17%; du lịch trọn gói tăng 3,16%; đồ uống, thuốc lá tăng 1,92%; quần áo may sẵn tăng 1,75%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 2,12% và giá nhóm văn phòng phẩm tăng 3,53%. Ngoài ra, giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới như giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép tăng trở lại làm chỉ số giá xuất, nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất công nghiệp, nông nghiệp 9 tháng tăng so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI, có một số yếu tố góp phần kiềm chế CPI: (i) Giá xăng dầu giảm 3,46% (làm CPI chung giảm 0,14%); giá gas giảm 5,97%; (ii) TP.HCM đã điều chỉnh giảm mức thu học phí theo Nghị quyết số 25/2018/NQ-HĐND ngày 07/12/2018 của HĐND thành phố làm chỉ số giá nhóm giáo dục giảm 0,55% trong tháng 2/2019 (làm CPI chung giảm 0,03%); (iii) Các cấp, các ngành tích cực triển khai các biện pháp bình ổn giá cả thị trường, đồng thời Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều hành chính sách tiền tệ kiên định mục tiêu giữ ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Cũng theo Tổng cục Thống kê, lạm phát cơ bản tháng 9/2019 tăng 0,16% so với tháng trước và tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng năm 2019 tăng 1,91% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.200
41.490
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.200
41.470
Vàng SJC 5c
41.200
41.490
Vàng nhẫn 9999
41.180
41.630
Vàng nữ trang 9999
40.670
41.470