10:26 | 02/11/2019

Giá vàng tuần tới: Vẫn mắc kẹt quanh mức 1.500 USD/oz

Giá vàng đang mắc kẹt ở quanh ngưỡng 1500 USD/oz trong 8 tuần, trong khi các nhà phân tích Phố Wall không hy vọng xu hướng sẽ thay đổi, thì các nhà phân tích Main Street vẫn cho rằng giá vàng sẽ tăng.

Thị trường vàng 1/11: Vàng trong nước vượt mốc 42 triệu đồng/lượng
Thị trường vàng 31/10: Vàng bật tăng sau quyết định hạ lãi suất của FED

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, tính đến 10h sáng nay 2/11 (theo giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.514,1 USD/oz, tăng 1,4 USD/oz (0,09%) so với cuối phiên trước đó. Giao dịch trong phiên dao động quanh ngưỡng 1.502,8 - 1.516,7 USD/oz.

Sáng nay, giá vàng kỳ hạn tháng 12 giao dịch lần cuối ở mức 1.516,7 USD/oz, tăng 1,8999 (0,1254%) so với cuối phiên trước đó.

Giá vàng đang mắc kẹt ở quanh ngưỡng 1500 USD/oz trong 8 tuần. Tuy nhiên, trong khi các nhà phân tích Phố Wall không hy vọng xu hướng sẽ thay đổi thì Main Street vẫn cho rằng giá vàng sẽ tăng.

Thị trường vàng đã cho thấy khả năng phục hồi vào thứ Sáu, sau báo cáo việc làm của Mỹ, giá vàng đã giữ trên mức 1.500 USD/oz. Theo Cục Thống kê Lao động Mỹ, 128.000 việc làm đã được tạo ra vào tháng 10, hơn hẳn mức dự báo 90.000 trước đó.

Khảo sát của Kitco tuần này cho thấy, trong số 14 chuyên gia thị trường đã tham gia trả lời có 7 chuyên gia (50%) cho rằng giá vàng đi ngang trong tuần tới. Trong khi đó, có 4 chuyên gia (29%) cho rằng giá vàng có thể sẽ tăng và 3 chuyên gia (21%) cho rằng giá vàng giảm.

Với 552 người tham gia cuộc thăm dò trực tuyến của Kitco, có 403 người (72%) cho rằng vàng sẽ tăng giá; 87 người (16%) dự đoán giá vàng sẽ giảm; 62 người còn lại (11%) cho rằng giá vàng đi ngang.

Carsten Fritsch, nhà phân tích kim loại quý tại Commerzbank, cho biết mặc dù thị trường vàng đang thiếu trợ lực để đẩy giá cao hơn, tuy nhiên các nhà đầu tư không nên bỏ qua thực tế rằng lãi suất thấp hơn khiến vàng trở thành tài sản thay thế hấp dẫn vì chi phí cơ hội thấp hơn.

Ông thêm rằng trong tình hình hiện tại, giá vàng có thể kỳ vọng sẽ tiếp tục giữ quanh mức 1.500 USD/oz.

Một số nhà phân tích khác cũng nhận thấy vàng vẫn còn nhiều tiềm năng bởi dữ liệu kinh tế tích cực. Trong đó, David Madden, nhà phân tích thị trường cao cấp tại CMC, nói rằng vàng có thể tăng 60% trong dài hạn.

Tuy nhiên trong ngắn hạn, ông kỳ vọng giá vàng sẽ giảm xuống dưới 1.500 USD/oz để phản ứng với báo cáo bảng lương phi nông nghiệp tháng 10 của Mỹ sắp được công bố.

“Tỷ giá sẽ không tăng trong thời gian ngắn và nếu một báo cáo việc làm tốt có thể đẩy giá vàng xuống thấp hơn so với xu hướng tăng hiện nay. Chúng ta có một vài báo cáo kinh tế tồi tệ từ các tin đồn về cuộc suy thoái mới. Tin xấu có nhiều khả năng đẩy giá vàng cao hơn là tin tốt”, ông cho biết thêm.

Adam Button, giám đốc điều hành tại Forexlive.com, nói rằng vàng có thể tăng giá bởi lập trường chính sách mới nhất của Fed tác động đến đồng USD.

“Tuần này, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ về cơ bản cho biết trong thời gian ngắn tới đây họ sẽ không tăng lãi suất. Tôi nghĩ rằng đồng USD sẽ suy yếu trên thị trường, điều đó sẽ hỗ trợ vàng”, ông nhận định.

Ở chiều ngược lại, đánh giá tác động từ chính sách tiền tệ của Mỹ, Richard Baker, biên tập viên của Báo cáo khai thác mỏ Eureka, nói rằng ông thấy vàng có thể giảm giá trong thời gian tới khi thị trường chứng khoán tiếp tục giao dịch gần mức cao kỷ lục.

Ông đưa ra dẫn chứng rằng các biểu đồ quan trọng để theo dõi vàng là tỷ lệ tương quan giữa vàng và chỉ số S&P 500, hiện chỉ số S&P 500 đang ở mức 3.100 điểm thì tương đồng giá vàng nên ở mức 1.456 USD/oz. Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán trong nước đang tăng thì tương quan với giá vàng có thể giảm trong thời gian tới…

Với thị trường trong nước, tính đến 10h sáng nay (2/11), giá vàng SJC được Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết tại TP.HCM ở mức 41,88 - 42,16 triệu đồng/lượng, tăng 20 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào so với hôm qua.

Trong khi đó, tại Hà Nội, giá vàng SJC hiện đang ở mức 41,88 - 41,16 triệu đồng/lượng, tăng 20 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào so với hôm qua.

Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI hiện niêm yết giá vàng tại khu vực Hà Nội ở mức 41,99-42,19 triệu đồng/lượng, tăng 90 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 10 nghìn đồng/lượng bán ra so với cuối phiên hôm qua.

Tại TP.HCM giá vàng DOJI đang được niêm yết ở mức 41,99-42,19 triệu đồng/lượng, tăng 90 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và  bán ra so với cuối phiên hôm qua.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.459 26.334 29.600 30.105 201,54 214,68
BIDV 23.140 23.260 25.533 26.288 29.688 30.260 207,91 214,76
VietinBank 23.124 23.254 25.447 26.282 29.551 30.191 210,79 216,79
Agribank 23.140 23.250 25.475 26.867 29.639 30.124 211,12 214,97
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 29.724 30.135 211,93 214,86
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 29.786 30.121 212,14 215,06
Sacombank 23.100 23.260 25.485 25.942 29.472 30.144 211,38 215,94
Techcombank 23.130 23.270 25.238 26.235 29.375 30.297 210,80 217,96
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.422 25.896 29.758 30.201 211,57 215,47
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.840 29.730 30.130 208,60 214,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.320
41.560
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.320
41.540
Vàng SJC 5c
41.320
41.560
Vàng nhẫn 9999
41.290
41.720
Vàng nữ trang 9999
40.740
41.540