09:34 | 22/05/2019

Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sữa

Nhiều thị trường đang mở cửa cho sữa và sản phẩm sữa của Việt Nam, trong đó phải kể tới “miếng bánh ngon” từ Trung Quốc.

“Chuyện hậu trường” của mỗi hộp sữa học đường
Việt Nam với nhu cầu sữa tiêu dùng trong nước

Sức hấp dẫn từ thị trường Trung Quốc

Báo cáo từ Cục Chăn nuôi cho thấy, hiện tốc độ tăng trưởng đàn bò sữa là 2,09%/năm. Cùng đó, tốc độ tăng trưởng sản lượng sữa giai đoạn 2016 - 2018 là 8,52%. Theo ước tính của cục này, năng suất sữa trung bình của đàn bò sữa trong cả nước năm 2018 đạt trên 5.000 kg sữa/con/năm là khá cao. So sánh với năng suất sữa của các nước trên thế giới và trong khu vực, năng suất này là cao hơn các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, NewZealand, Brazil... Bởi vậy, sữa và các sản phẩm sữa của Việt Nam đang có rất nhiều cơ hội cạnh tranh khi đẩy mạnh xuất khẩu (XK).

Sữa của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với sản phẩm của Australia và NewZealand tại thị trường Trung Quốc

Theo Cục Chăn nuôi, sữa và các sản phẩm sữa của Việt Nam được XK đến 46 quốc gia trên thế giới. Đặc biệt, đến nay, Trung Quốc đã hoàn tất báo cáo đánh giá rủi ro mở cửa thị trường sữa cho Việt Nam. Sau hơn 6 năm đàm phán, ngày 26/4/2019, Nghị định thư về XK sữa và các sản phẩm sữa của Việt Nam sang Trung Quốc đã được ký kết, tạo cơ hội mở rộng cho sữa và các sản phẩm sữa của Việt Nam XK vào thị trường 1,4 tỷ dân này.

Báo cáo thị trường sữa toàn cầu 2018 của FAO cho thấy, Trung Quốc sản xuất 25,6 triệu tấn sữa, giảm 1,1% so với năm 2017 và để đáp ứng tiêu dùng sữa và sản phẩm sữa trong nước, nước này đã nhập 14,6 triệu tấn sữa quy đổi. Đây là quốc gia có tiềm năng rất lớn cho XK các sản phẩm sữa của Việt Nam trong những năm tới.

Đánh giá về cơ hội XK sữa sang thị trường Trung Quốc, ông Tống Xuân Chinh, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, đến năm 2020, nước này cần tới 11 tỷ lít sữa, nhưng ngành sữa của Trung Quốc hiện có chi phí sản xuất còn cao cũng như các hạn chế nước và thức ăn chăn nuôi bò sữa sẽ tiếp tục tạo nên bất lợi cho ngành sản xuất sữa nội địa, vì vậy phải nhập khẩu các sản phẩm từ sữa chế biến là tất yếu.

Hơn nữa, kể từ khi xảy ra vụ sữa bột nhiễm melanine, chính người dân Trung Quốc cũng vẫn còn nghi ngại khi sử dụng sữa trong nước; chất lượng bò sữa hiện cũng có vấn đề do đồng cỏ bị ô nhiễm.

Tuy nhiên, điều ông Chinh lo ngại nhất là hiện nay sữa của Australia và New Zeland đang chiếm thị phần lớn trên thị trường sữa Trung Quốc, do đó sữa của Việt Nam vào Trung Quốc sẽ phải cạnh tranh gay gắt với 2 “ông lớn” này.

Ở góc độ DN, ông Ngô Minh Hải - Chủ tịch Tập đoàn TH đánh giá, cánh cửa XK sữa vào thị trường Trung Quốc bước đầu đã mở nhưng không phải DN trong ngành sữa Việt Nam sẽ có thể dễ dàng đi qua. Các DN sữa phải đảm bảo được 2 yêu cầu quan trọng gồm duy trì chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm và đảm bảo được nguồn gốc xuất xứ.

Chăn nuôi theo chuỗi giá trị

Thực tế hiện nay cho thấy, việc đảm bảo chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm sữa là không hề dễ dàng do chăn nuôi bò sữa chủ yếu vẫn dừng ở quy mô nông hộ. Ông Tống Xuân Chinh cho biết, số lượng bò sữa nuôi trong nông hộ là 199.941 con, chiếm 70,65% tổng đàn bò sữa của cả nước. Quy mô nuôi dao động từ 5,4  - 10 con/hộ đối với chăn nuôi bò sữa.

Theo thống kê của Tổng cục Thống kê, năm 2016, cả nước có 28.695 hộ chăn nuôi bò sữa. Trong đó, có 17.792 hộ nuôi dưới 5 con bò sữa/hộ, chiếm 62% tổng số hộ chăn nuôi bò sữa của cả nước; có 5.622 hộ nuôi từ 5-10 con bò sữa/hộ, chiếm 19,89% tổng số hộ chăn nuôi bò sữa của cả nước; có 3.564 hộ nuôi từ 10 - 20 con/hộ, chiếm 12,42% tổng số hộ chăn nuôi bò sữa của cả nước. Các hộ chăn nuôi quy mô trên 20 con/hộ còn hạn chế, chỉ chiếm 5,98% tổng số hộ chăn nuôi bò sữa của cả nước.

Sở dĩ các nông hộ chưa thể tăng quy mô đàn bò sữa là do chưa có cơ chế hỗ trợ. Đại diện HTX Nông nghiệp Evergrowth (Sóc Trăng) cho biết, việc phát triển chăn nuôi bò sữa tại địa phương này là rất có tiềm năng, nhưng cần tạo điều kiện cho nông dân, cần cho họ một cơ hội thực sự để phát triển nghề nuôi bò sữa.

Để ngành sữa Việt Nam phát triển, ông Chinh kiến nghị Bộ NN&PTNT xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi bò sữa, chế biến sữa giai đoạn 2020-2030 để tăng cường phát triển ngành sữa, thúc đẩy XK sữa và các sản phẩm từ sữa.

Bộ Công thương chủ trì phối hợp với Bộ Y tế, Bộ NN&PTNT, Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ liên quan thành lập Đoàn kiểm tra, thanh tra liên ngành về chất lượng sữa, công bố tiêu chuẩn chất lượng, hợp chuẩn, hợp quy đối với sản phẩm sữa ở một số DN sản xuất và chế biến sữa. Đặc biệt, Bộ Công thương cũng cần tăng cường quy hoạch và giám sát xây dựng các nhà máy chế biến sữa, để công suất phải phù hợp với tổng đàn bò của vùng nguyên liệu gắn với thị trường tiêu thụ.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh liên kết giữa nông dân và các DN XK sữa. Hay nói cách khác là tổ chức lại sản xuất của DN, HTX và người nông dân theo chuỗi giá trị. Có hai hình thức liên kết. Một là DN cung cấp giống, thức ăn đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật cho bà con, sau đó thu mua sữa từ các hộ dân này với giá sau khi đã trừ chi phí.

Hai là người dân trồng cỏ sau đó bán lại cho DN, đây là hình thức rất hữu hiệu, đặc biệt là những khu đất nông nghiệp không hiệu quả nên chuyển sang trồng cỏ.

Đây không chỉ là giải pháp giúp đẩy mạnh XK sữa mà còn giúp ngành sữa Việt chiếm lĩnh thị trường trong nước. Hiện nay, Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 4 về năng suất của đàn bò vắt sữa nhưng sản xuất trong nước vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu và hàng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn sữa và sản phẩm sữa về để phục vụ tiêu dùng trong nước.

Tính riêng trong năm 2019, nước ta đã nhập khẩu 962 triệu USD sữa và sản phẩm từ sữa. Điều đó cho thấy ngành chăn nuôi bò sữa của nước ta có rất nhiều cơ hội phát triển.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.200
41.490
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.200
41.470
Vàng SJC 5c
41.200
41.490
Vàng nhẫn 9999
41.180
41.630
Vàng nữ trang 9999
40.670
41.470