10:05 | 19/06/2017

Gỡ vướng cho gia hạn nợ vay chăn nuôi

Các TCTD được chỉ đạo chủ động cơ cấu lại thời hạn trả nợ phù hợp với khả năng của khách hàng; được phép giữ nguyên nhóm nợ, đồng thời được phép cho vay mới đối với các khách hàng có phương án sản xuất kinh doanh khả thi mà vẫn còn dư nợ.

Các TCTD thực hiện cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi vay... cho ngành chăn nuôi lợn
NHNN hướng dẫn các TCTD giãn nợ, miễn giảm lãi vay chăn nuôi lợn
Giãn nợ vốn vay chăn nuôi chỉ là tình thế

Những tháng gần đây, thực hiện theo sự chỉ đạo của NHNN tại Văn bản số 3091/NHNN-TD, nhiều TCTD trên cả nước đã đồng thời triển khai các giải pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ đối với các khách hàng là DN, hộ gia đình, trang trại đã vay vốn để chăn nuôi lợn nhưng đang gặp khó khăn về tiêu thụ.

Với tổng mức dư nợ cho vay toàn ngành chăn nuôi lợn khoảng gần 30.000 tỷ đồng (theo ghi nhận của NHNN đến tháng 4/2017), trong đó chủ yếu (90%) khách hàng là hộ gia đình và cá nhân thì việc triển khai tích cực và hiệu quả Văn bản số 3091 sẽ là một hoạt động hỗ trợ rất lớn đối với ngành chăn nuôi lợn. Bởi phần đông khách hàng vay vốn là các đơn vị chăn nuôi quy mô nhỏ - vốn không có chỗ dựa mạnh về tài chính và dễ dàng bị phá sản khi thị trường xảy ra những biến động mạnh.

NHTM mong muốn gia hạn nợ hai lần để tiếp tục cho vay mới người chăn nuôi lợn

Căn cứ vào Văn bản 3091 có thể thấy chỉ đạo của NHNN đối với các TCTD trong việc hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho ngành chăn nuôi lợn là khá rõ ràng. Theo đó, các TCTD được chỉ đạo chủ động cơ cấu lại thời hạn trả nợ phù hợp với khả năng của khách hàng; được phép giữ nguyên nhóm nợ, đồng thời được phép cho vay mới đối với các khách hàng có phương án sản xuất kinh doanh khả thi mà vẫn còn dư nợ. Ngoài ra, các NHTM cũng được phép thực hiện các biện pháp hỗ trợ khác như: miễn – giảm lãi vay, lãi quá hạn; ưu tiên thu nợ gốc trước nợ lãi sau… đối với khách hàng của mình.

Tuy nhiên, việc cơ cấu lại thời hạn các khoản nợ luôn đi kèm với những rủi ro về quản trị nguồn vốn. Bởi tính đến thời điểm hiện tại, Agribank là NHTM cho vay nhiều nhất vào lĩnh vực chăn nuôi lợn với tổng dư nợ khoảng 27.140 tỷ đồng (chiếm 92,4% tổng dư nợ cho vay chăn nuôi lợn của toàn hệ thống TCTD) nhưng con số nợ xấu cũng đã lên khoảng trên 288 tỷ đồng.

Những năm trước đây, ngành chăn nuôi lợn cũng đã từng gặp khó khăn do thị trường tiêu thụ sụt giảm và dịch bệnh bùng phát. Nhiều lần  Chính phủ và NHNN đã chỉ đạo các TCTD thực hiện gia hạn nợ. Trong đó, riêng Agribank đã gia hạn khoảng trên 350 tỷ đồng theo các văn bản trước đó, như Công văn 1149/TTg-KTN/2012, Quyết định 540/TTg-QĐ/2014 của Thủ tướng Chính phủ và Văn bản 3623/NHNN-TD của NHNN. Từ đầu năm 2017 đến nay, ngân hàng này tiếp tục gia hạn thêm khoảng 150 tỷ đồng nợ nữa. Tuy nhiên, trong số các khách hàng vay vốn, nhiều hộ gia đình chăn nuôi trước đây đã được gia hạn nợ một lần. Hiện nay nếu Agribank tiếp tục thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ một lần nữa thì theo các quy định của NHNN tại Thông tư 02/2013, số nợ này sẽ bị chuyển sang nhóm 4 – là nhóm nợ nghi ngờ, tiệm cận với nhóm 5 là nhóm nợ có khả năng mất vốn.

Ngoài ra, cũng theo các quy định của Thông tư 02/2013, khi ngân hàng hỗ trợ miễn, giảm lãi cho các khoản nợ bị thiệt hại do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng thì khoản vay đó sẽ bị chuyển sang nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn). Lúc đó, ngay cả khi khách hàng được gia hạn nợ thì việc tiếp cận vốn mới cũng rất khó khăn vì hồ sơ vay mới sẽ bị đưa vào nhóm có mức rủi ro cao nhất trong việc thu nợ. Đến lúc này, một mặt ngân hàng đối mặt với rủi ro tỷ lệ nợ xấu (nhóm 3, 4, 5) lên cao, một mặt lại trở nên khó khăn hơn khi gia tăng cho vay vốn đối với các phương án sản xuất, kinh doanh khả thi. Như thế việc tiếp tục gia hạn nợ vô hình trung lại trở thành khó khăn trong mở rộng tín dụng, khiến cả người chăn nuôi và ngân hàng cùng gặp khó.

Những vướng mắc kể trên, theo ông Phạm Toàn Vượng, Phó tổng giám đốc Agribank chính là nguyên nhân dẫn tới việc các TCTD hạn chế thực hiện miễn, giảm lãi cho khách hàng. Vì vậy, tỷ lệ nợ ngân hàng được cơ cấu lại thời hạn chỉ chiếm khoảng gần 2% so với tổng dư nợ của Agribank đối với ngành chăn nuôi lợn.

Để tháo gỡ nút thắt này, đại diện Agribank cho rằng, về cơ chế hỗ trợ gia hạn nợ NHNN nên xem xét cho phép các TCTD khi thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ (kể cả trường hợp đã cơ cấu một lần), được giữ nguyên nhóm nợ đối với ngành chăn nuôi lợn nói riêng và đối tượng cho vay theo Nghị định số 55/2015 của Chính phủ nói chung.

Trong khi đó, để đảm bảo ngành chăn nuôi lợn hạn chế tối đa những rủi ro biến động về thị trường tiêu thụ dẫn đến phải “giải cứu” như những năm vừa qua, các chuyên gia tài chính cho rằng, việc cơ cấu lại nợ kéo dài có thể dẫn đến nguy cơ tiềm ẩn nợ xấu trong tương lai. Agribank kiến nghị Chính phủ cần rà soát lại quy hoạch chăn nuôi lợn. Trong những trường hợp có rủi ro do nguyên nhân khách quan cần có chính sách trợ giá cho người chăn nuôi. Từ đó, những hỗ trợ về gia hạn nợ đối với người chăn nuôi của các NHTM mới có ý nghĩa thiết thực.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,10
5,10
5,30
5,70
5,90
6,40
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
5,50
5,70
6,80
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.700 22.770 26.998 27.320 30.490 30.979 200,27 204,10
BIDV 22.695 22.765 27,093 27.335 30.755 31.029 202,12 203,88
VietinBank 22.690 22.770 27.093 27.359 30.514 30.942 200.89 203.53
Agribank 22.680 22.760 27.050 27.356 30.399 30.836 201,45 204,67
Eximbank 22.680 22.770 26.957 27.308 30.429 30.825 201,44 204,06
ACB 22.700 22.770 26.892 27.297 30.431 30.913 200,95 204,65
Sacombank 22.695 22.776 27.023 27.383 30.522 30.882 201,49 204,55
Techcombank 22.680 22.780 26.742 27.379 30.134 30,926 200,21 204,91
LienVietPostBank 22.670 22.760 26.740 27.297 30.708 31.019 19885 203,20
DongA Bank 22.700 22.770 26.950 27.360 30.420 30.880 201,00 204,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.500
36.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.500
36.700
Vàng SJC 5c
36.500
36.720
Vàng nhẫn 9999
35.720
36.120
Vàng nữ trang 9999
35.420
36.120