15:05 | 31/07/2019

Hà Nội: Bệnh dịch tả lợn châu Phi đang giảm

Thông tin trên vừa được lãnh đạo ngành nông nghiệp báo cáo tại Hội nghị Giao ban công tác tháng 7/2019 của UBND TP. Hà Nội.

Tiết lộ "vũ khí" mới trong phòng chống Dịch tả lợn châu Phi
Giám sát môi trường ở điểm nóng của dịch tả lợn châu Phi
Việt Nam sản xuất thành công vaccine phòng dịch tả lợn châu Phi
Ảnh minh họa

Cụ thể, theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, thời gian qua, thành phố tiếp tục chỉ đạo quyết liệt công tác dập dịch tả lợn châu Phi. Từ đầu tháng 7/2019, diễn biến dịch tả lợn đã giảm dần.

Đến hết 29/7, dịch bệnh đã xảy ra tại 28.559 hộ chăn nuôi (chiếm 35,4% tổng số hộ, cơ sở chăn nuôi) trên 24 quận, huyện, thị xã, làm mắc bệnh và tiêu hủy 496.896 con (chiếm 26,5% tổng đàn) với trọng lượng 34.175 tấn.

Đáng chú ý, hiện nay, trên địa bàn thành phố có 121 xã, phường thuộc 22 quận, huyện, thị xã dịch bệnh tả lợn châu Phi không phát sinh thêm sau 30 ngày.

Lý giải nguyên nhân dịch tả lợn châu Phi giảm xuống, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chu Phú Mỹ cho biết: Các quận, huyện, thị xã, đặc biệt là người dân đã làm tốt công tác tuyên truyền để cách ly, dập dịch. Cùng với đó, cơ chế miễn dịch của lợn đã tốt hơn sau một thời gian diễn ra dịch.

“Không có chuyện do lợn chết hết rồi nên dịch giảm”, ông Chu Phú Mỹ khẳng định. 

Về công tác hỗ trợ hực hiện công tác phòng chống dịch, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: Thành phố đã cấp hỗ trợ bổ sung cho các quận, huyện, thị xã để hỗ trợ người dân.

Cụ thể, trước đây, mức tiền hỗ trợ cho cán bộ, nhân dân thực hiện công tác phòng chống dịch là 100.000 đồng vào ngày thường và 200.000 đồng vào ngày lễ thì hiện đã được nâng lên gấp đôi là 200.000 đồng vào ngày thường và 400.000 đồng vào ngày lễ.

“Hiện thành phố có hơn 100 xã đã không phát sinh dịch. Song chủ trương của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là chưa tái đàn vào thời điểm này”, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.280
41.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.280
41.500
Vàng SJC 5c
41.280
41.520
Vàng nhẫn 9999
41.210
41.660
Vàng nữ trang 9999
40.700
41.500