10:02 | 12/04/2019

Hà Nội: Giá thuê văn phòng, mặt bằng bán lẻ đều tăng

Theo bà Nguyễn Hoài An - Giám đốc CBRE chi nhánh Hà Nội, giá thuê văn phòng đều có xu hướng giá tăng lên so với năm trước, giá thuê hạng A tăng 5% so với cùng kỳ năm ngoái, hạng B có mức tăng nhẹ (hơn 1%).

Báo cáo khảo sát thị trường bất động sản Hà Nội quý I/2019 do CBRE vừa công bố cho thấy, giá chào thuê trung bình của văn phòng hạng A tăng 3,2% so với quý trước, đạt 26,2 USD/m2/tháng (chưa bao gồm VAT và phí dịch vụ). Các tòa nhà hạng B giữ mức giá thuê trung bình là 13,8 USD/m2/tháng.

Theo bà Nguyễn Hoài An - Giám đốc CBRE chi nhánh Hà Nội, giá thuê văn phòng đều có xu hướng giá tăng lên so với năm trước, giá thuê hạng A tăng 5% so với cùng kỳ năm ngoái, hạng B có mức tăng nhẹ (hơn 1%). Đây là diễn biến tích cực của thị trường văn phòng Hà Nội. Trước năm 2018 thị trường văn phòng có xu hướng khá chững, khoảng hơn 1 năm trở lại đây mọi thứ có vẻ nhích lên.

Ảnh minh họa

Do đó, công suất cho thuê của các văn phòng tại Hà Nội ở ngưỡng 85-90%. “Trong quý vừa qua, thị trường văn phòng cho thấy nhu cầu thuê khả quan, chủ yếu từ các khách thuê công nghệ và văn phòng linh hoạt trong nước cũng như các khách thuê là các công ty bảo hiểm quốc tế, với diện tích hấp thụ đạt 21.600 m2, tăng 9% so với cùng kỳ năm ngoái. Tỷ lệ trống của văn phòng hạng A ở mức 9,4%, tăng 5,0 điểm % so với quý trước do có nguồn cung mới. Trong khi đó, tỷ lệ trống của văn phòng hạng B giảm 2,6 điểm % theo quý xuống còn 9,6% - mức thấp nhất trong ba năm qua”, bà Nguyễn Hoài An chia sẻ.

Về nguồn cung, trong quý I/2019, một tòa nhà Hạng A mới gia nhập thị trường - Thaiholdings Tower với 24.545 m2 diện tích sàn cho thuê, làm tăng nguồn cung văn phòng Hạng A tại khu vực trung tâm lên 10%. Đây là dự án Hạng A mới nhất sau ba năm không có nguồn cung và cũng là tòa văn phòng mới nhất tại khu vực trung tâm. Kết thúc quý I/2019, tổng nguồn cung văn phòng tại Hà Nội đạt khoảng 1,3 triệu m2, trong đó Hạng A chỉ chiếm khoảng 1/3 tổng nguồn cung.

Trong năm 2019, dự kiến sẽ có khoảng 138.000 m2 sàn văn phòng được ra mắt thị trường. Đây là con số tăng trưởng tương đối khá trong bối cảnh nguồn cung hiện tại. Khu vực Đống Đa -Ba Đình và phía Tây tiếp tục được ưu tiên bởi khách thuê thuộc nhóm ngành công nghệ và bảo hiểm, ngân hàng. Đại diện CBRE cho hay, các công ty đa quốc gia, đại sứ quán và các công ty tài chính sẽ có thêm nhiều lựa chọn mới tại khu vực trung tâm thành phố, đáp ứng nhu cầu mở rộng hoặc thay đổi địa điểm. Bên cạnh đó, CBRE dự đoán các không gian làm việc linh hoạt sẽ tiếp tục là một nguồn cầu thuê chính trong năm 2019 nhờ nhu cầu cao về cải thiện hiệu suất sử dụng văn phòng của các doanh nghiệp.

Dự kiến đến hết 2019, tổng nguồn cung bán lẻ tăng thêm 21% so với năm ngoái, nâng tổng nguồn cung mặt bằng bán lẻ toàn thị trường vượt mức 1 triệu m2 sàn. Khu Đống Đa - Ba Đình và phía Tây sẽ tiếp tục dẫn đầu thị trường về nguồn cung mặt bằng bán lẻ khi có 126.700 m2 dự kiến đi vào hoạt động trong năm 2019. Đồng thời, khu vực phía Nam với hai dự án mới trong năm 2019 là Hinode City và Sun Plaza Ancora đi vào hoạt động cũng sẽ cải thiện nguồn cung bán lẻ.

Bà Nguyễn Hoài An cho hay, do không có nguồn cung mới dự kiến đi vào hoạt động tại khu vực này năm 2019, giá chào thuê trung bình dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng tích cực, trong khi tỷ lệ trống duy trì ở mức thấp dưới 1%. Giá thuê trung bình tầng trệt ở khu vực Đống Đa - Ba Đình và phía Tây vẫn duy trì ở mức ổn định và đạt 30,4 USD/m2/tháng. Tỷ lệ trống khu Đống Đa - Ba Đình và phía Tây giảm còn 9,3% trong quý I/2019.

“Tuy nhiên, khu vực này có khả năng sẽ thấy sự điều chỉnh về giá thuê cũng như tăng tỷ lệ trống tính đến hết năm 2019 khi có 4 dự án tương lai”, bà Nguyễn Hoài An chia sẻ.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.353 26.224 29.231 29.730 201,36 214,48
BIDV 23.140 23.260 25.429 26.181 29.307 29.873 207,42 214,24
VietinBank 23.129 23.259 25.347 26.182 29.194 29.834 210,50 216,50
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.384 25.735 29.342 29.748 211,89 214,28
ACB 23.130 23.250 25.383 25.733 29.424 29.755 211,75 216,47
Sacombank 23.103 23.263 25.384 25.843 29.391 29.800 210,96 215,50
Techcombank 23.134 23.274 25.144 26.137 29.023 29.937 210,31 217,47
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.317 25.790 29.364 29.801 211,36 215,31
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.730 29.340 29.740 208,30 214,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.670
Vàng SJC 5c
41.400
41.690
Vàng nhẫn 9999
41.390
41.840
Vàng nữ trang 9999
40.870
41.670