15:22 | 09/10/2019

Hà Nội “gỡ vướng” cho doanh nghiệp sản xuất công nghiệp chủ lực

Ngày 9/10, Sở Công Thương Hà Nội đã tổ chức Hội nghị đối thoại, đồng hành cùng phát triển giữa lãnh đạo Thành phố và doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp chủ lực trên địa bàn. 

Ông Đàm Tiến Thắng – Phó Giám đốc Sở Công Thương Hà Nội cho biết, sau 2 năm triển khai thực hiện Đề án phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực thành phố Hà Nội, được sự quan tâm của các sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã và sự hưởng ứng tham gia tích cực của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp trên địa bàn và đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

Năm 2018, Thành phố đã công nhận 61 sản phẩm công nghiệp chủ lực và Top 10 sản phẩm công nghiệp chủ lực thành phố Hà Nội. Tổng doanh thu của 61 sản phẩm đạt 40.000 tỷ đồng (tăng 28,4% so với năm trước); chiếm 32,5% giá trị sản xuất ngành công nghiệp Thành phố; chiếm 7,7% tổng sản phẩm trên địa bàn; kim ngạch xuất khẩu đạt trên 10.000 tỷ đồng (tăng 74% so với năm trước).

 
Toàn cảnh hội nghị

Trong đó, có 15 doanh nghiệp dẫn đầu ngành công nghiệp Hà Nội với doanh thu trên nghìn tỷ đồng/năm. Tiêu biểu, có doanh nghiệp đạt doanh thu trên 4.000 tỷ đồng như: Công ty cổ phần Vicostone; Công ty TNHH Panasonic Việt Nam...

Từ đầu năm 2019 đến nay, đã có 31 doanh nghiệp với 40 sản phẩm đăng ký tham gia xét chọn sản phẩm công nghiệp chủ lực Hà Nội năm 2019. Dự kiến, doanh thu đạt được của 31 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia xét chọn sản phẩm công nghiệp chủ lực năm 2019 đạt 6.000 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.600 tỷ đồng.

Như vậy, trong 2 năm 2018 – 2019, dự kiến sẽ có 100 sản phẩm được công nhận sản phẩm công nghiệp chủ lực Thành phố, doanh thu các sản phẩm công nghiệp chủ lực Thành phố đạt 46 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 42,9% tổng doanh thu sản xuất công nghiệp và giá trị xuất khẩu đạt 11.610 tỷ đồng.

Tại Hội nghị, lãnh đạo các sở, ngành và doanh nghiệp đã trao đổi, nêu ý kiến thẳng thắn nhằm tìm các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Một số doanh nghiệp cho rằng, nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực của thành phố đang bị đánh đồng vào sản phẩm chất lượng thấp, điều này gây ra hệ lụy vô cùng phức tạp cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính. Bên cạnh đó, những vấn đề về thuế, đất đai, vốn, mặt bằng sản xuất, thủ tục hành chính… là những khó khăn mà doanh nghiệp sản phẩm công nghiệp chủ lực trên địa bàn Thủ đô đang phải đối mặt.

 
Vấn đề thuế, đất đai, mặt bằng, thủ tục...là những khó khăn mà DN đang phải đối mặt

Trong bối cảnh, Việt Nam ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng, thực hiện đầy đủ các cam kết trong Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và tham gia các hiệp định thương mại tự do, các sản phẩm công nghiệp chủ lực nói riêng và các doanh nghiệp Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh lớn ngay trên “sân nhà”.

Trong khi đó, dù mang danh hiệu sản phẩm công nghiệp chủ lực nhưng việc chế tạo hầu hết sản phẩm vẫn ở dạng gia công đơn giản, phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu. Năng suất lao động thấp, trình độ nhân lực cũng như năng lực quản lý của doanh nghiệp chưa cao, dẫn tới tình trạng sản phẩm nội không đủ sức cạnh tranh ở những gói thầu, dự án có yêu cầu kỹ thuật cao.

Đồng thời, các sản phẩm công nghiệp chủ lực của Hà Nội cũng chưa tận dụng tốt cơ hội trong hội nhập, thu hút chuyển giao công nghệ tiên tiến, công nghệ cao; thu hút được nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư với sản phẩm công nghiệp hỗ trợ chuyên sâu. Ngay bản thân các doanh nghiệp có sản phẩm công nghiệp chủ lực chưa liên kết được với nhau thành chuỗi sản xuất - tiêu thụ để đạt hiệu quả.

Những ý kiến của doanh nghiệp sẽ được Sở Công Thương Hà Nội tập hợp, từ đó kiến nghị lên thành phố và Trung ương.

Theo Sở Công Thương Hà Nội, để thúc đẩy phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực, Thành phố Hà Nội đã đưa ra nhiều giải pháp. Theo đó, rà soát, ban hành, triển khai cơ chế, chính sách; đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh; tuyên truyền, tôn vinh sản phẩm sản phẩm công nghiệp chủ lực và nâng cao uy tín Chương trình sản phẩm công nghiệp chủ lực Thành phố; nâng cao năng lực cạnh tranh, sức cạnh tranh và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển khoa học công nghệ; phát triển nguồn nhân lực.

Trong khuôn khổ của Hội nghị cũng đã diễn ra Lễ ra mắt Câu lạc bộ doanh nghiệp công nghiệp chủ lực thành phố Hà Nội và Trao bằng khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích trong thực hiện Đề án phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực Hà Nội năm 2018.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.472 26.346 29.403 29.904 205,46 219,78
BIDV 23.145 23.265 25.550 26.305 29.497 30.058 210,52 214,35
VietinBank 23.132 23.262 25.475 26.310 29.373 30.013 210,35 216,35
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.497 25.849 29.521 29.930 211,71 214,65
ACB 23.130 23.255 25.502 25.841 29.590 29.909 211,60 214,42
Sacombank 23.108 23.268 25.517 25.974 29.571 29.974 210,87 215,41
Techcombank 23.140 23.280 25.263 26.257 29.193 30.110 210,19 217,35
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.427 25.886 29.542 29.967 211,19 215,03
DongA Bank 23.160 23.250 25.520 25.840 29.530 29.920 208,30 214,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.470
41.760
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.470
41.740
Vàng SJC 5c
41.470
41.760
Vàng nhẫn 9999
41.460
41.910
Vàng nữ trang 9999
40.940
41.740