09:38 | 13/05/2019

Sở Giao dịch - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam:

Hành trình 20 năm xây dựng và phát triển

Agribank chi nhánh Sở Giao dịch luôn khẳng định được vị thế, vai trò của một trong những chi nhánh đi đầu triển khai các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại

Xuyên suốt hành trình 20 năm xây dựng và phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Sở Giao dịch (Sở Giao dịch) đã có những bước chuyển mình quan trọng để thay đổi mô hình tổ chức, chức năng nhiệm vụ qua từng thời kỳ. Quá trình “thay da đổi thịt” của Sở Giao dịch không chỉ thực hiện chủ trương của Ban lãnh đạo Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) nhằm thực hiện đề án tái cơ cấu, mà qua thời gian đã chứng minh là những bước đi không thể hiệu quả hơn để đáp ứng với sự thay đổi phát triển của nền kinh tế.

Sở Giao dịch là đơn vị tiên phong trong hệ thống Agribank triển khai thí điểm Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO

Những chuyển mình mạnh mẽ

Năm 1999 được đánh dấu là mốc quan trọng cho sự ra đời của Sở Giao dịch trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Sở Kinh doanh hối đoái, chức năng, nhiệm vụ mang tính chất chuyên biệt, chủ yếu kinh doanh đối ngoại, chưa phải là đơn vị đầu mối cho toàn hệ thống, quy mô, doanh số hoạt động còn hạn chế… Song đây cũng là giai đoạn vượt qua khó khăn trong những ngày mới thành lập để hoàn thiện bộ máy, tổ chức triển khai các nhiệm vụ theo ủy quyền của Agribank và hoạt động kinh doanh như các đơn vị thành viên khác.

Hoạt động ổn định được vài năm, tới năm 2004 theo chỉ đạo của Agribank, để phù hợp với yêu cầu thực tiễn, Sở Giao dịch lại bàn giao toàn bộ hoạt động quản lý kinh doanh vốn và ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng, tập trung vào các hoạt động kinh doanh trực tiếp. Thời điểm này, Sở Giao dịch được Tổng giám đốc Agribank giao là trung tâm ngoại tệ mặt, đầu mối xuất nhập khẩu ngoại tệ. Để mở rộng kinh doanh, Sở Giao dịch đã thành lập và đưa vào hoạt động 3 phòng giao dịch nhằm huy động nguồn vốn và thực hiện các hoạt động truyền thống khác của ngân hàng.

Từ năm 2009 đến cuối năm 2015 là thời kỳ Sở Giao dịch thực hiện hoạt động đồng thời trên cả 2 cân đối 1000 và 1200. Theo đó, Sở Giao dịch có chức năng hoạt động của một chi nhánh thông thường, đồng thời là đơn vị đại diện theo ủy quyền của Tổng giám đốc trong một số lĩnh vực và nghiệp vụ, có nghĩa vụ và quyền tự chủ trong kinh doanh theo quy định của Agribank. Trong giai đoạn này, bộ máy chỉ có các phòng nghiệp vụ mà không còn mạng lưới các phòng giao dịch như trước. Tuy nhiên, do Sở Giao dịch là đơn vị đại diện theo ủy quyền của Agribank trong một số lĩnh vực (đặc biệt là trên thị trường liên ngân hàng) nên có những lợi thế nhất định hỗ trợ trong các hoạt động kinh doanh trực tiếp nói chung và công tác huy động nguồn vốn trên thị trường I nói riêng.

Từ năm 2016 đến nay, để phù hợp với dòng chảy kinh tế và theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước, một lần nữa Sở Giao dịch cân đối để hoạt động kinh doanh như các chi nhánh khác trong hệ thống, cơ cấu gồm Hội sở tại số 2 và 4 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội cùng với 5 phòng giao dịch trên địa bàn Thủ đô.

Agribank chi nhánh Sở Giao dịch luôn khẳng định được vị thế, vai trò của một trong những chi nhánh đi đầu triển khai các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại

Khẳng định vị thế

Dù tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ được xây dựng theo mô hình nào, thì trong mỗi giai đoạn, Ban giám đốc và toàn thể cán bộ nhân viên Sở Giao dịch đều vượt qua khó khăn, ổn định tổ chức, luôn đoàn kết thống nhất, nỗ lực không ngừng để hoàn thành nhiệm vụ, trở thành đơn vị vững mạnh trong hệ thống Agribank.

Thành quả trong quá trình hoạt động đã thể hiện rõ nét ở kết quả kinh doanh trong những năm qua. Năm 2018 khi vừa chớm bước vào tuổi 20, tổng nguồn vốn huy động của Sở Giao dịch đạt mức 17.157 tỷ đồng, gấp hơn 30 lần so với năm 1999. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn bình quân hàng năm đạt trên 15%; tổng dư nợ nội bảng đạt 4.739 tỷ đồng, gấp hơn 25 lần so với năm 1999. Tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân hàng năm đạt mức trên 20% trong 20 năm qua. Bên cạnh đó, chi nhánh đã kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, nhờ đó, đến cuối năm 2018, tỷ lệ nợ xấu ở mức 0,62%, bảo đảm vốn tín dụng an toàn, hiệu quả. 

Không chỉ tập trung vào công tác tín dụng, hoạt động dịch vụ của chi nhánh ngày càng được hoàn thiện cả về chất lượng và số lượng. Cùng với tác phong chuyên nghiệp, tận tụy của các giao dịch viên đã cung cấp các dịch vụ ngân hàng nhanh chóng, bảo đảm an toàn và đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Vì vậy thu dịch vụ hàng năm tăng trưởng ổn định, năm sau cao hơn năm trước. Năm 2018 thu dịch vụ đạt gần 26 tỷ đồng, tăng 19,34% so năm trước và cũng là năm có tỷ trọng thu dịch vụ trong quỹ thu nhập cao nhất những năm qua…

Chia sẻ về những nhân tố để đơn vị phát triển vững mạnh trong suốt 20 năm vừa qua, ông Phan Đăng Lưu, Giám đốc Sở Giao dịch cho rằng, đó không chỉ là ý chí quyết tâm, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới mình để không bị lệch ra khỏi dòng chảy kinh tế đất nước, mà còn nhờ tập trung đầu tư vào nguồn nhân lực. Hiện nay toàn đơn vị có 200 cán bộ, nhân viên; hầu hết, được đào tạo bài bản, nhạy bén với môi trường kinh doanh hiện đại. Đặc biệt, còn có đội ngũ cán bộ trẻ đạt trình độ đại học và trên đại học, ngoại ngữ tốt... đã luôn được chú trọng đào tạo, củng cố nghiệp vụ chuyên môn, cập nhật nâng cao kỹ năng, kiến thức, công nghệ mới. Không chỉ có trí tuệ, sự sáng tạo, cán bộ nhân viên Sở Giao dịch luôn tràn đầy nhiệt huyết, tận tâm, tận lực cống hiến vì sự nghiệp Agribank… đã làm nên thành công của Sở Giao dịch trong 20 năm qua.

Một yếu tố khác được Giám đốc Phan Đăng Lưu nhấn mạnh chính là công cụ quản trị: Hệ thống quản lý chất lượng. Sở giao dịch là đơn vị đầu tiên trong hệ thống Agribank tự xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO. Ngay từ năm 2007 đơn vị đã triển khai áp dụng thành công Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO vào hoạt động. Năm 2010 được Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam cấp Giấy chứng nhận Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2008. Được Trung tâm Chứng nhận phù hợp Quacert (tổ chức chứng nhận đầu tiên tại Việt Nam được quốc tế thừa nhận là tổ chức chứng nhận tiêu chuẩn) cấp chứng nhận quá trình 2014-2017 theo Tiêu chuẩn ISO 9001:2008. Năm 2017, chi nhánh đã chuyển đổi thành công Hệ thống Quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 sang phiên bản mới theo Tiêu chuẩn ISO 9001:2015.

Những thành quả này một lần nữa khẳng định, qua 20 năm xây dựng và phát triển, Agribank chi nhánh Sở Giao dịch luôn khẳng định được vị thế, vai trò của một trong những chi nhánh đi đầu triển khai các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả, hàng năm đóng góp đáng kể vào lợi nhận của toàn hệ thống, cùng Agribank tiên phong trên lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và luôn đồng hành với mọi tổ chức, thành phần kinh tế xây dựng đất nước phồn thịnh.

 

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.260 25.903 26.761 28.708 29.168 207,73 215,91
BIDV 23.140 23.260 25.886 26.631 28.688 29.173 212,15 217,57
VietinBank 23.130 23.260 25.887 26.682 28.637 29.277 212,36 218,86
Agribank 23.145 23.250 25.890 26.286 28.710 29.185 212,32 216,19
Eximbank 23.140 23.250 25.916 26.274 28.806 29.204 213,25 216,20
ACB 23.130 23.250 25.917 26.274 28.875 29.199 213,18 216,12
Sacombank 23.100 23.250 25.912 26.317 28.826 29.228 212,26 216,81
Techcombank 23.120 23.260 25.656 26.516 28.457 29.326 211,63 218,93
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.849 26.328 28.830 29.260 212,79 216,73
DongA Bank 23.160 23.240 25.940 26.260 28.810 29.180 209,90 215,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.000
39.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.000
39.200
Vàng SJC 5c
39.000
39.220
Vàng nhẫn 9999
38.850
39.300
Vàng nữ trang 9999
38.500
39.300