15:00 | 22/11/2017

Hóa giải băn khoăn về vốn cho đầu tư BOT

Tỷ trọng tín dụng cho BOT chỉ chiếm khoảng 1,5% trong tổng dư nợ và nợ xấu được kiểm soát ở mức rất thấp

Thủ tướng chỉ đạo khắc phục bất cập trong đầu tư BOT, BT
Kêu gọi đầu tư BOT cao tốc Bắc - Nam khó khả thi
Bổ sung chế tài xử lý đối với các nhà đầu tư dự án BOT

Tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra, các chính sách đầu tư và cho vay đối với các dự án BOT giao thông tiếp tục nhận được sự quan tâm của các đại biểu Quốc hội và nhận được trả lời thỏa đáng của Tư lệnh ngành Ngân hàng - Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng.

Tỷ trọng tín dụng cho BOT chỉ chiếm khoảng 1,5% trong tổng dư nợ và nợ xấu được kiểm soát ở mức rất thấp

Đại biểu Nguyễn Lâm Thành (Lạng Sơn) băn khoăn về việc hiện nay lãi suất cho vay thương mại các dự án đầu tư cao tới 11,5%/năm, điều này dẫn đến làm tăng giá thành. Với dự án BOT giao thông, việc tăng giá thành sẽ làm tăng thời gian thu hồi vốn và tăng mức phí mà người dân và DN phải trả. Bên cạnh đó, với mức lãi suất cao, dòng tín dụng theo nguyên tắc thị trường có xu hướng đổ vào lĩnh vực đầu tư như BOT giao thông, bất động sản là nơi có các dự án lớn hàng nghìn, hàng chục nghìn tỷ đồng, thời gian vay dài hạn. Điều này dẫn đến các lĩnh vực đầu tư khác như nông nghiệp, dịch vụ, DN vừa và nhỏ là khu vực tạo ra nhiều sản phẩm và việc làm cho xã hội thì lại khó cạnh tranh và khó tiếp cận được nguồn vốn vay để phát triển.

Hóa giải những thắc mắc này, Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng khẳng định ngành Ngân hàng đã dành lượng tín dụng xứng đáng cho những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và những lĩnh vực ưu tiên và dưới sự điều hành của Chính phủ và NHNN thì mặt bằng lãi suất giảm rất mạnh. Từ năm 2011 đến năm 2016 lãi suất huy động giảm từ 7 đến 10%, lãi suất cho vay còn giảm mạnh hơn từ 10 đến 11%. Lãi suất cho vay mà trung dài hạn lĩnh vực ưu tiên hiện nay các TCTD áp dụng chỉ khoảng 8%.

Thống đốc cho biết NHNN đã kiểm soát rất chặt chẽ vốn tín dụng với lĩnh vực bất động sản và các dự án BOT. Hiện nay dư nợ tăng trưởng tín dụng cho lĩnh vực BOT thấp hơn so với năm trước. Tỷ trọng tín dụng cho BOT chỉ chiếm khoảng 1,5% trong tổng dư nợ và nợ xấu được kiểm soát ở mức rất thấp. Tỷ trọng cho vay bất động sản cũng đã giảm hơn so với năm ngoái. 10 tháng đầu năm, tín dụng cho vay bất động sản chỉ tăng khoảng 7,1% và tỷ trọng tín dụng cho vay bất động sản trên tổng dư nợ chỉ khoảng 6,5%, trong khi cùng kỳ năm ngoái thì tín dụng cho bất động sản cỡ khoảng trên 10% và tỷ trọng cũng khoảng hơn 7%. Như vậy, là cả cấp độ tăng và tỷ trọng cũng đã giảm.

Ngành Ngân hàng đã kiểm soát tín dụng cho bất động sản bằng các tỷ lệ an toàn và đã tăng hệ số rủi ro khi cho vay tín dụng bất động sản và giảm tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn. Đây là những công cụ rất quan trọng để kiểm soát được tốc độ tín dụng vào những lĩnh vực rủi ro. Thời gian tới theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN vẫn quyết tâm kiểm soát chặt chẽ những rủi ro trong các lĩnh vực này. Trước nhu cầu đầu tư lớn, hệ thống ngân hàng vẫn có thể tiếp tục cung ứng vốn cho vay nếu dự án có phương án tài chính khả thi và các nhà đầu tư có năng lực thực sự.

Riêng về đầu tư đường cao tốc Bắc – Nam, rất nhiều ý kiến đại biểu tỏ ra lo lắng. Tổng vốn đầu tư cho dự án này là 118 ngàn tỷ đồng, nhưng vốn ngân sách chỉ đảm đương được 55 ngàn tỷ, còn huy động là 63 ngàn tỷ đồng thì dự kiến là sẽ vay hệ thống ngân hàng trên 50 ngàn tỷ đồng. Đại biểu Trần Hoàng Ngân đồng tình với việc sẽ kiểm soát chặt chẽ các dự án BOT là rất chính xác và chúng ta cần phải kiểm tra năng lực tài chính của nhà đầu tư, cần phải kiểm tra hiệu quả của đầu tư.

Thống đốc cho rằng, đây là vấn đề rất lớn, nhu cầu vốn trong thời gian tới và cho đường cao tốc là rất quan trọng, nhưng vấn đề rủi ro của hệ thống ngân hàng là vấn đề quan trọng không kém. NHNN cũng báo cáo Chính phủ không phải là hệ thống ngân hàng không cho vay các dự án BOT giao thông mà NHNN chỉ đạo các TCTD phải tăng cường chức năng thẩm định về phương án tài chính để đảm bảo hiệu quả và khả thi. Phải thẩm định năng lực tài chính của chủ đầu tư để đảm bảo lựa chọn được các nhà đầu tư có năng lực tài chính thực sự và có các dự án khả thi thì các ngân hàng vẫn có thể tiếp tục cho vay.

Thống đốc khẳng định hệ thống ngân hàng vẫn cho vay nhưng với điều kiện các dự án BOT và những tuyến đường đó đảm bảo khả thi về mặt tài chính. NHNN cũng chỉ đạo các ngân hàng trong quá trình cho vay phải quản lý rất chặt tình hình sử dụng vốn của chủ đầu tư và các diễn biến có liên quan để làm sao không gây rủi ro đến các khoản tín dụng của ngân hàng.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.120 23.270 25.168 26.002 27.630 28.073 210,85 219,15
BIDV 23.150 23.270 25.168 25.893 27.633 28.103 215,64 221,15
VietinBank 23.144 23.274 25.137 25.932 27.562 28.202 215,14 221,14
Agribank 23.135 23.240 25.178 25.568 27.651 28.115 215,58 219,53
Eximbank 23.150 23.260 25.202 25.551 27.757 28.140 216,54 219,53
ACB 23.145 23.265 25.165 25.511 27.765 28.077 216,42 219,41
Sacombank 23.117 23.277 25.159 25.611 27.734 28.138 215,60 220,16
Techcombank 23.148 23.288 25.973 25.964 27.437 28.328 215,04 222,32
LienVietPostBank 23.135 23.255 25.131 25.600 27.766 28.186 215,97 219,96
DongA Bank 23.150 23.230 25.230 25.550 27.760 28.130 213,10 219,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.600
41.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.600
41.950
Vàng SJC 5c
41.600
41.970
Vàng nhẫn 9999
41.550
42.050
Vàng nữ trang 9999
41.150
41.950