10:00 | 10/10/2018

Hoạt động sản xuất toàn cầu đang có xu hướng thu hẹp

Chỉ số PMI sản xuất toàn cầu theo thống kê của JP Morgan đang chịu tác động mạnh mẽ từ những diễn biến chậm lại của kinh tế vĩ mô toàn cầu khi đà mở rộng của khu vực sản xuất có chiều hướng bị thu hẹp liên tục qua các tháng của quý III. 

Cụ thể, chỉ số PMI đã giảm từ mức 53 điểm vào thời điểm cuối quý II xuống còn 52,7 điểm trong tháng 7, tiếp tục giảm xuống còn 52,6 điểm trong tháng 8 và kết thúc tháng 9 ở mức 52,2 điểm - mức mở rộng chậm nhất trong vòng 22 tháng qua. Như vậy PMI đang ghi nhận chuỗi giảm dài nhất lên đến 5 tháng liên tục kể từ chỉ số này đạt ở mức mở rộng trên 50 điểm vào từ tháng 3/2016.

Chỉ số PMI sản xuất toàn cầu -Nguồn: JP Morgan Chase

Xét theo ngành sản xuất, xu hướng đi xuống của chỉ số PMI được ghi nhận rõ rệt tại 2 nhóm ngành hàng hóa tiêu dùng và hàng hóa đầu tư, trong khi đó nhóm hàng hóa trung gian vẫn duy trì được mức tăng trưởng nhẹ.

Xét theo khu vực kinh tế, nhóm các nền kinh tế phát triển vẫn duy trì được đà mở rộng của khu vực sản xuất với sự dẫn đầu của Mỹ, trong khi đó nhóm các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi đang là nguyên nhân chính dẫn đến xu hướng diễn biến kém tích cực của chỉ số PMI trong những tháng qua.

Cụ thể, chỉ số PMI tại nền kinh tế đầu tàu Trung Quốc đã rơi xuống sát ngưỡng thu hẹp là 50 điểm và diễn biến chậm lại tại nhiều quốc gia khác như Nga, Brazil, Colombia, Đài Loan, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ...

Hầu hết các chỉ số PMI thành phần đều đang có chiều hướng đi xuống như các thống kê về sản lượng đầu ra, số lượng đơn đặt hàng mới, tuyển dụng lao động và giá cả đầu vào. Đặc biệt chỉ số đơn đặt hàng xuất khẩu mới có 6 tháng giảm liên tục, kết thúc quý III còn đang rơi vào ngưỡng thu hẹp là 49,7 điểm cho thấy những biến động thương mại toàn cầu đang có ảnh hưởng đến tăng trưởng xuất khẩu tại các nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến đà tăng của chỉ số sản xuất nói chung.

Diễn biến kém tích cực của chỉ số PMI càng khẳng định nhận định cho triển vọng ảm đạm đối với kinh tế toàn cầu trong những tháng tới. Theo đó, hầu hết các tổ chức quốc tế đều thống nhất đưa ra một mức tăng trưởng triển vọng của kinh tế toàn cầu trong năm nay sẽ dao động từ 3 - 3,9%, thấp hơn so với mức dự báo đưa ra hồi đầu năm khoảng 0,2 – 0,3%.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.245 23.335 26.198 26.669 28.793 29.254 199,20 206,24
BIDV 23.255 23.345 26.186 26.555 28.809 29.263 202,92 206,41
VietinBank 23.234 23.334 26.134 26.639 28.746 29.306 202,78 206,53
Agribank 23.250 23.340 26.182 26.535 28.815 29.252 202,98 206,48
Eximbank 23.230 23.330 26.175 26.526 28.874 29.260 203,59 206,31
ACB 23.250 23.330 26.184 26.521 28.991 29.291 203,71 206,33
Sacombank 23.249 23.341 26.249 26.508 28.989 29.344 203,75 206,82
Techcombank 23.225 23.335 25.954 26.672 28.589 29.408 202,36 207,60
LienVietPostBank 23.230 23.330 26.197 26.656 29.067 29.474 203,82 207,50
DongA Bank 23.250 23.330 26.210 26.520 28.920 29.280 202,30 206,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.190
36.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.190
36.350
Vàng SJC 5c
36.190
36.370
Vàng nhẫn 9999
35.210
35.610
Vàng nữ trang 9999
34.860
35.560