09:31 | 07/03/2016

Huyết mạch kinh tế trong dòng chảy lịch sử

Đúng như ví von “Ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế”, quá trình hình thành và phát triển của ngành Ngân hàng đã gắn với từng diễn tiến lịch sử của dân tộc. Từ đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đến những bước khởi đầu xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa. 

Để rồi 65 năm nhìn lại những chặng đường vinh quang của đất nước, đều thấy đậm dấu hoạt động của ngân hàng,  đặc biệt là trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, mở rộng cánh cửa ra sân chơi kinh tế quốc tế.

Bài 1: Nặng gánh hai vai một thời khói lửa

Một cụ già tám mươi tuổi mang tới một gói lụa điều, bên trong là nén vàng gia bảo nặng mười bảy lạng trong Tuần Lễ Vàng tháng 9/1945

Từ thuở sơ khai

Lần giở lại những tư liệu, thấy lịch sử ngành Ngân hàng hiện ra như những thước phim đen trắng được quay chậm. Và sự khởi nguồn không chỉ từ ngày 6/5/1951, mà từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công với Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Ngày ấy, chính quyền non trẻ của giai cấp công nông vừa giải quyết những vấn đề cấp bách của đời sống nhân dân, củng cố và tăng cường thực lực của chính quyền, vừa phải chống lại hành động chống phá của thực dân Pháp và các thế lực phản động.

Trong khi đó, tình hình tài chính - tiền tệ của chính quyền cách mạng gặp vô vàn khó khăn. Kho bạc chỉ còn hơn 1,25 triệu đồng Đông Dương, trong đó một nửa là tiền rách. Ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay tư bản thực dân và họ luôn tìm cách phá hoại ta; các nguồn thu ngân sách quá ít ỏi so với nhu cầu chi tiêu của chính quyền…

Trước tình hình đó, Chính phủ đã kêu gọi nhân dân quyên góp tài chính dưới các hình thức như “Quỹ độc lập”, “Tuần lễ vàng”, đồng thời gấp rút chuẩn bị phát hành tiền.

Vẫn còn đó những vật chứng lịch sử như đồng bạc nhôm hai hào – đồng tiền đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được phát hành vào ngày 1/12/1945. Tiếp đến, tháng 11/1946, bộ giấy bạc Việt Nam được phát hành trong cả nước. Sau đó là sự kiện thành lập Nha tín dụng sản xuất, tổ chức tín dụng đầu tiên ở nước ta vào ngày 3/2/1947, với nhiệm vụ giúp vốn cho nhân dân phát triển sản xuất, hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn, làm hậu thuẫn cho chính sách giảm tức và hướng dẫn nhân dân đi vào con đường làm ăn tập thể.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951) đã đề ra chủ trương, chính sách mới về kinh tế-tài chính, trong đó chỉ rõ: Chính sách tài chính phải kết hợp chặt chẽ với chính sách kinh tế; Thành lập Ngân hàng Quốc gia, phát hành đồng bạc mới để ổn định tiền tệ, cải tiến chế độ tín dụng.

Chủ trương đó đã được hiện thực hoá  vào ngày 6/5/1951, tại hang Bòng thuộc xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 15-SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam.

Trọng trách chủ yếu của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam khi đó là quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ; quản lý Kho bạc Nhà nước; huy động vốn và cho vay phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa; quản lý hoạt động kim dung bằng biện pháp hành chính; quản lý ngoại hối và đấu tranh tiền tệ với địch. Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được xây dựng với ngân hàng Trung ương, ngân hàng liên khu và ngân hàng tỉnh, thành phố.

Đến hai vai trọng trách

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (20/7/1954), 2 miền Nam - Bắc tạm thời bị chia cắt. Đường lối chung của Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này đã được Đảng xác định với việc tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.

Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam vì thế cũng từng bước được hoàn thiện để phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng. Hoạt động của Ngân hàng Quốc gia  tập trung vào việc tăng cường quản lý, điều hoà lưu thông tiền tệ theo các nguyên tắc quản lý kinh tế, tài chính xã hội chủ nghĩa.

Ngân hàng Quốc gia Việt Nam tiến hành thu hồi tiền địch ở vùng mới giải phóng, thiết lập thị trường tiền tệ thống nhất trên miền Bắc. Mạng lưới ngân hàng được mở rộng tới các huyện, quận, thị xã với đội ngũ cán bộ được tăng cường, nâng cao trình độ.

Ngày 26/10/1961 ghi một dấu son mới trong hoạt động của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam với việc đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Hoà chung vào công cuộc xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hoạt động tín dụng được đẩy mạnh để đáp ứng yêu cầu khôi phục kinh tế, phục vụ yêu cầu hợp tác hóa và đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp, phát triển kinh tế quốc doanh.

Cũng trong giai đoạn này, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động. Đến cuối năm 1964, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có quan hệ hợp tác với 265 ngân hàng tại 41 nước trên thế giới.

Rồi đến năm 1965, Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Ngành ngân hàng gánh thêm trọng trách khai thác các nguồn ngoại tệ cho Nhà nước, bảo đảm thanh toán quốc tế thông suốt, đáp ứng yêu cầu sản xuất, chiến đấu và đời sống. Cùng với việc triển khai phong trào tiết kiệm, góp sức người, sức của xây dựng hậu phương, chi viện tiền tuyến, hàng trăm cán bộ ngân hàng đã lên đường hành quân vào giúp Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam xây dựng nền tài chính - tiền tệ, đấu tranh với địch trên mặt trận kinh tế, tài chính.

Vẫn còn đó những trang sử, thước phim rạng ngời của bộ máy Kinh - Tài miền Nam với các đơn vị đặc biệt mang bí số Quỹ Đặc biệt (B29) và Ban Tài chính đặc biệt (N2683), đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương, trực tiếp là Bộ Chính trị. Đây chính là đầu mối tổ chức các đoàn thể giải phóng đi vận động quần chúng giúp đỡ lương thực, tiền bạc cho cách mạng, tiếp nhận nguồn viện trợ của miền Bắc, kiều bào ở nước ngoài và của bạn bè quốc tế.

Chỉ sau 10 năm làm nhiệm vụ, đến tháng 4/1975, các cán bộ-chiến sĩ ngành Ngân hàng đã tiếp ứng cho chiến trường miền Nam khoảng 1 tỷ USD, hàng tỷ tiền Sài Gòn và hàng trăm triệu tiền Campuchia, Kíp Lào, Bath Thái Lan… Mà như nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khi trao tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho B29 và N2683 đánh giá: “Những đóng góp của cán bộ-chiến sĩ ngành Ngân hàng rất âm thầm, lặng lẽ bởi mọi thứ luôn nằm trong tình trạng tuyệt đối bí mật, thế nhưng lại rất quan trọng, góp phần làm nên thành công của sự nghiệp giải phóng miền Nam lịch sử năm 1975”.

Khơi mở huyết mạch kinh tế

Nên ngày đất nước rộn ràng niềm vui thống nhất, cũng là lúc những cán bộ ngân hàng đã có mặt tại Sài Gòn đáp ứng đòi hỏi khẩn cấp về tiếp quản và cải tạo hệ thống ngân hàng của chế độ cũ ở miền Nam, xây dựng hệ thống ngân hàng mới của chính quyền Cách mạng, thực hiện thống nhất tiền tệ trong cả nước.

Để loại bỏ đồng tiền của chính quyền Sài Gòn ra khỏi đời sống kinh tế - xã hội, thống nhất tiền tệ trong cả nước khi đó, Bộ Chính trị quyết định phát hành đồng tiền ngân hàng Việt Nam ở miền Nam, thu đổi đồng tiền của chế độ Sài Gòn. Đợt thu đổi diễn ra từ ngày 22/9/1975 đến ngày 30/9/1975 với tỷ lệ 1 đồng tiền ngân hàng Việt Nam mới bằng 500 đồng tiền của chính quyền Sài Gòn cũ.

Sau khi đổi tiền, Việt Nam hình thành hai khu vực lưu hành tiền tệ: tiền ở miền Bắc do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành, tiền ở miền Nam do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phát hành. Hai đồng tiền đều là giấy bạc của Ngân hàng Nhà nước phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn quốc.

Sau thời gian này, những khó khăn do hậu quả chiến tranh kéo dài, cộng với việc duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hóa tập trung khiến kinh tế nước ta rơi vào tình trạng suy thoái nặng nề, bội chi ngân sách ở mức cao trong nhiều năm, lạm phát có lúc ở mức 3 con số, hoạt động sản xuất, lưu thông phân phối và đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, tất cả đã từng bước được tháo gỡ với các chính sách tín dụng mới.

Đặc biệt là sau Quyết định 32/CP ngày 11/2/1977 của Hội đồng Chính phủ, Tổng giám đốc NHNN đã ban hành Thể lệ cho vay vốn lưu động và quy định về cho vay đầu tư xây dựng cơ bản đối với các xí nghiệp quốc doanh.

Hoạt động tín dụng bước vào thời kỳ cải tiến mạnh mẽ và mở rộng các loại cho vay, trước hết là đối với khu vực kinh tế quốc doanh. Hệ thống thanh toán thống nhất trong cả nước được thiết lập. Tình trạng công nợ dây dưa giữa các DN, tổ chức, đơn vị được giải quyết đáng kể. Quan hệ tín dụng và thanh toán quốc tế với các nước xã hội chủ nghĩa được tăng cường.

Tháng 5/1977, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tham gia Ngân hàng Đầu tư quốc tế (MIB), Ngân hàng hợp tác kinh tế quốc tế (MBES).

Tiếp nối những thành công ban đầu đó, ngày 1/4/1978 đã đánh dấu mốc lịch sử quan trọng trong lịch sử ngành Ngân hàng Việt Nam với Nghị quyết số 08/NQ-TW về việc phát hành tiền ngân hàng mới, thu hồi tiền cũ ở cả hai miền của Bộ Chính trị nhằm thống nhất tiền tệ trên cả nước. Ngày 2/5/1978, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu phát hành tiền mới, thu hồi tiền cũ trên cả nước.

Và cũng bắt đầu từ đây, chính sách tiền tệ ngày càng trở nên linh hoạt, đáp ứng hiệu quả các yêu cầu của nền kinh tế với “chính sách tín dụng tích cực, coi tín dụng là mặt trận phía trước” trong giai đoạn 1980 - 1985. Nhiều hình thức cho vay mới được áp dụng, đáp ứng nhu cầu vốn và tiền mặt, góp phần thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế, hỗ trợ ngành thương nghiệp quốc doanh thu mua, nắm nguồn hàng phục vụ đời sống nhân dân và ổn định giá.

Việc thu đổi tiền vào tháng 9/1985 là chính sách kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực phân phối lưu thông, một bộ phận trong kế hoạch tổng điều chỉnh giá - lương - tiền nhằm ổn định sức mua của đồng tiền, phục vụ công cuộc xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Bài 2: Từ mô hình hai cấp đến sân chơi hội nhập

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,20
4,20
4,70
5,20
5,40
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,30
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,00
6,10
6,70
7,00
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
-
0,29
0,29
0,29
5,42
5,42
5,42
6,90
7,10
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.675 22.745 27.667 28.004 30.973 31.469 202,20 206,07
BIDV 22.680 22.750 27.640 27.956 30.995 30.453 202,73 205,77
VietinBank 22.665 22.745 27.674 27.917 30.901 31.334 203,26 205,95
Agribank 22.670 22.745 26.634 27.975 30.015 31.457 202,65 205,89
Eximbank 22.650 22.740 27.617 27.977 31.073 31.478 203,31 205,96
ACB 22.670 22.740 27.613 27.959 31.154 31.466 203,30 205,85
Sacombank 22.667 22.759 27.682 28.041 31.170 31.527 203,34 206,40
Techcombank 22.665 22.755 27.306 28.185 30.723 31.615 201,88 207,21
LienVietPostBank 22.650 22.765 26.585 28.051 31.119 31.534 203,08 206,66
DongA Bank 22.680 22.750 27.090 27.400 30.480 30.930 199,80 202,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.760
36.980
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.760
36.960
Vàng SJC 5c
36.760
36.980
Vàng nhẫn 9999
36.540
36.940
Vàng nữ trang 9999
36.190
36.890