08:15 | 10/10/2018

IMF hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu

Trong Báo cáo cập nhật về Triển vọng kinh tế toàn cầu vừa được công bố hôm 9/10, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo, kinh tế toàn cầu chỉ tăng trưởng 3,7% trong năm nay và năm 2019, giảm so với mức 3,9% như dự báo được tổ chức này đưa ra cách đây 3 tháng. Đây cũng là lần đầu tiên kể từ tháng 7/2016, IMF cắt giảm dự báo tăng trưởng toàn cầu.

IMF cảnh báo: Nguy cơ khủng hoảng tài chính thế giới
Thương mại toàn cầu đang gặp trở ngại

Báo cáo đánh giá, mặc dù nền kinh tế toàn cầu vẫn đang trên đà để đạt được tốc độ tăng trưởng của năm ngoái - mức tăng mạnh nhất kể từ năm 2011 - triển vọng mới cho thấy sự “đuối sức” đã bắt đầu xuất hiện và hiệu suất tổng thể đang bị ảnh hưởng bởi những khó khăn của các thị trường mới nổi từ Brazil đến Thổ Nhĩ Kỳ.

Theo IMF, rủi ro đối với triển vọng toàn cầu đã tăng lên trong 3 tháng qua và nghiêng về phía giảm tốc, IMF cho biết. Các mối đe dọa đối với kinh tế toàn cầu bao gồm sự leo thang của cuộc chiến thương mại giữa Mỹ với các quốc gia khác, nhất là Trung Quốc, và việc lãi suất tại Mỹ tăng nhanh hơn dự kiến sẽ thúc đẩy dòng vốn chảy khỏi các thị trường mới nổi.

Lời cảnh báo đến khi các Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương từ 189 quốc gia thành viên của IMF đang nhóm họp tại Hội nghị thường niên IMF/WB diễn ra từ ngày 8-14/10 tại Bali, Indonesia. Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung dự kiến sẽ là một trong những tâm điểm của hội nghị lần này, bên cạnh động thái thắt chặt tiền tệ của Fed và các Ngân hàng Trung ương lớn khác sau một thập kỷ duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ.

Theo IMF, nếu chiến tranh thương mại tiếp tục leo thang, nó có thể kéo giảm đáng kể đà tăng trưởng của kinh tế toàn cầu. Cụ thể, trong một kịch bản mà Tổng thống Mỹ Donal Trump thực hiện tất cả những đe dọa của mình, bao gồm cả việc áp thuế nhập khẩu đối với ôtô, IMF ước tính sản lượng toàn cầu có thể giảm hơn 0,8% vào năm 2020 và vẫn thấp hơn 0,4% so với đường xu hướng dài hạn. Đặc biệt, sản lượng có thể giảm hơn 1,6% ở Trung Quốc và hơn 0,9% ở Mỹ vào năm tới.

Theo đó, dù giữ nguyên tăng trưởng của kinh tế Mỹ là 2,9% trong năm 2018 như dự báo hồi tháng 7, song IMF đã cắt giảm dự báo tăng trưởng của nền kinh tế lớn nhất thế giới trong năm tới xuống còn 2,5% (thấp hơn 0,2% so với dự báo trước đó) do lo ngại những tác động tiêu cực của xung đột thương mại. “Triển vọng là (kinh tế Mỹ) sẽ ít cân bằng và tăng trưởng chậm hơn so với dự báo của chúng tôi đưa ra hồi tháng 4”, Maurice Obstfeld - Nhà kinh tế trưởng của IMF cho biết trong báo cáo.

Tính đến thời điểm này, ông Trump đã áp thuế quan lên 250 tỷ USD hàng hóa của Trung Quốc và Bắc Kinh đã trả đũa bằng cách áp thuế lên 110 tỷ USD hàng hóa của Mỹ. Tuy nhiên dự báo này của IMF vẫn chưa tính tới lời đe dọa của ông Trump là sẽ mở rộng thuế quan lên toàn bộ hơn 500 tỷ USD hàng hóa mà Mỹ đã mua từ Trung Quốc năm ngoái.

Với Trung Quốc, IMF cũng hạ dự báo tăng trưởng của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới xuống còn 6,2% trong năm 2019, giảm 0,2 điểm phần trăm so với dự báo đưa ra 3 tháng trước.

Tăng trưởng kinh tế của khu vực đồng euro cũng được dự báo sẽ chỉ ở mức 2% trong năm nay, giảm 0,2 điểm so với dự báo tháng 7, sau khi tăng trưởng của khu vực này yếu hơn dự kiến trong nửa đầu năm nay.

Đáng chú ý, IMF đã nâng nhẹ dự báo tăng trưởng của Nhật Bản lên 1,1% trong năm nay, tăng 0,1 điểm so với dự báo hồi tháng 7.

IMF cũng đã hạ dự báo tăng trưởng của một số thị trường mới nổi, bao gồm Argentina, Brazil, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ, phản ánh các yếu tố bao gồm tín dụng được siết chặt hơn.

Về lạm phát, IMF cho biết lạm phát sẽ tăng tốc trên toàn thế giới trong năm nay, chủ yếu do giá hàng hóa tăng. Lạm phát lõi, trong đó loại trừ các mặt hàng dễ biến động như năng lượng, sẽ thay đổi tùy thuộc vào từng quốc gia.

Cụ thể, tại Mỹ, chỉ số chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE) lõi - thước đo lạm phát ưa thích của Fed, được dự báo sẽ tăng 2,1% trong năm nay và 2,3% vào năm tới, do kích thích tài chính của Chính phủ Mỹ sẽ thúc đẩy tăng trưởng vượt trên mức tiềm năng.

Về lâu dài, IMF nhận thấy, tình trạng dân số già hóa và tăng trưởng năng suất chậm chạp là thách thức lớn nhất đối với các nền kinh tế tiên tiến. Trong bối cảnh đó, định chế này dự báo tăng trưởng toàn cầu sẽ giảm xuống còn 3,6% vào năm 2022-2023, khi sự tăng trưởng ở các nước giàu quay trở lại mức tiềm năng, nó nói.

Một rủi ro khác đối với kinh tế toàn cầu cũng được IMF đề cập tới đó là chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa dân túy đang trỗi dậy. “Các nhà hoạch định chính sách phải có một chiến lược dài hạn để giải quyết bất ổn này. Chính sách tài chính toàn diện, đầu tư giáo dục và đảm bảo tiếp cận với chăm sóc sức khỏe đầy đủ có thể làm giảm sự bất bình đẳng và là những ưu tiên chính”, kinh tế gia trưởng của IMF, ông Maurice Obstfeld, nói.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.160
41.440
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.160
41.420
Vàng SJC 5c
41.160
41.440
Vàng nhẫn 9999
41.140
41.590
Vàng nữ trang 9999
40.620
41.420