10:28 | 13/10/2017

IMF: Kinh tế Việt Nam tăng trưởng 6,3% năm 2018

Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới (WEO) của IMF vừa công bố dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 6,3% trong khi lạm phát ở mức 4% trong các năm 2017 và 2018.

Ngắn hạn phục hồi

Theo WEO, các hoạt động kinh tế toàn cầu đang được củng cố, với mức tăng trưởng toàn cầu dự kiến sẽ tăng lên 3,6% vào năm 2017 và 3,7% vào năm 2018. Như vậy so với các dự báo đưa ra vào tháng 4/2017 thì WEO đã điều chỉnh tăng 0,1% trong cả năm nay và năm tới.

Ảnh minh họa

Triển vọng bức tranh kinh tế toàn cầu trong ngắn hạn sáng sủa hơn dựa trên thực tế các số liệu kinh tế và kỳ vọng chuyển biến tích cực hơn ở khu vực đồng tiền chung châu Âu, Nhật Bản, các nền kinh tế châu Á và châu Âu mới nổi.

Trong đó, báo cáo lần này nhấn mạnh tới Trung Quốc, với dự báo kinh tế Trung Quốc sẽ tăng trưởng 6,8% trong năm nay và 6,5% trong năm 2018, cao hơn 0,1% so với dự báo trước đó của tổ chức này đưa ra vào tháng 7. Việc điều chỉnh tăng này phản ánh kết quả tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn dự kiến trong nửa đầu năm và được củng cố bởi các cải cách phía cung và các nới lỏng chính sách trước đó tại nền kinh tế này.

Cùng với đà tăng mạnh hơn dự kiến trong nửa đầu năm 2017, WEO điều chỉnh dự báo tăng trưởng tăng 0,2% (so với dự báo đưa ra vào tháng 4) ở các nền kinh tế phát triển trong năm nay, lên mức 2,2%. Tuy nhiên, trong khi nhận định tăng trưởng sẽ mạnh mẽ hơn ở khu vực đồng Euro, Nhật Bản và Canada thì WEO cũng điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng với các nền kinh tế phát triển lớn khác là Mỹ (chủ yếu do các yếu tố bất định chính sách tăng lên) và Anh (do hoạt động kinh tế chậm lại nửa đầu năm nay).

Thị trường tài chính về cơ bản mạnh mẽ hơn, các thị trường chứng khoán ở cả các nền kinh tế phát triển và thị trường mới nổi đều tiếp tục xu hướng tăng trưởng tích cực. Thị trường hàng hóa cơ bản cũng tương đối ổn định, với giá các hàng hóa vẫn ở mức thấp, dù kỳ vọng về nhu cầu toàn cầu mạnh mẽ hơn trong tương lai.

Trong khi đó, diễn biến lạm phát thấp hơn mục tiêu ở hầu hết các nền kinh tế phát triển và nhiều nền kinh tế khác và dự báo có thể sẽ chỉ tăng dần đến mức mục tiêu của các NHTW. Ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, các cảnh báo về độ trễ tác động của việc hạ giá đồng nội tệ (với một số nước là tăng giá đồng nội tệ) trước đó so với đồng USD cũng giúp cho lạm phát lõi ở mức thấp.

Những tín hiệu đó cho thấy, các rủi ro ngắn hạn về cơ bản không lớn và hồi phục kinh tế toàn cầu có thể mạnh hơn, được hỗ trợ bởi tiêu dùng mạnh hơn và sự tự tin trong kinh doanh cũng như các điều kiện tài chính thuận lợi.

Dài hạn thách thức

Nhưng đồng thời, trong môi trường có nhiều bất định về chính sách và căng thẳng về địa chính trị gia tăng thì nếu có những sai lầm về chính sách – dù kỳ vọng sẽ tránh được - có khả năng làm giảm mức độ tin tưởng của thị trường, dẫn đến tình trạng tài chính chặt chẽ hơn và giá tài sản suy giảm hơn.

Điều đó hàm nghĩa là các rủi ro đối với tăng trưởng trong trung và dài hạn vẫn tiềm ẩn. Một trong số đó là nguy cơ sẽ có sự thắt chặt nhanh chóng và với quy mô đáng kể của các điều kiện tài chính toàn cầu. Như lãi suất dài hạn sẽ cao hơn ở Mỹ và các nền kinh tế khác khi các hành động “bình thường hóa” chính sách tiền tệ được tiến hành nhanh hơn kỳ vọng.

Các điều kiện tài chính toàn cầu thắt chặt hơn cũng có thể dẫn đến sự sụt giảm mạnh về mức độ chấp nhận rủi ro toàn cầu – đang ở mức cao hiện nay - và điều này sẽ tác động tiêu cực đến kinh tế vĩ mô, nhất là ở những nền kinh tế dễ bị tổn thương khi niềm tin yếu đi, giá trị các tài sản thấp hơn.

Một rủi ro khác là nguy cơ bất ổn tài chính ở các nền thị trường mới nổi. Sau một thời gian cung cấp tín dụng dồi dào, việc thắt chặt đột ngột các điều kiện tài chính toàn cầu (và sự tăng giá của đồng USD) có thể làm phơi bày những yếu kém tài chính ở một số thị trường mới nổi hiện đang có đòn bảy nợ cao và gắn chặt với đồng USD.

Ngoài ra, WEO cũng đề cập đến một loạt các rủi ro khác như: Lạm phát liên tục ở mức thấp mà không thể nâng lên ở các nền kinh tế phát triển; tiến triển chậm chạp trong những cải cách về các quy định và cơ chế giám sát tài chính đã đạt được kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008; những thay đổi trong chính sách của mỗi quốc gia (theo xu hướng bảo hộ) hay những yếu tố phi kinh tế khác sẽ làm giảm thương mại và các dòng đầu tư xuyên biên giới, làm tổn hại đến tăng trưởng toàn cầu.

Theo khuyến nghị của WEO, việc tập trung vào phục hồi kinh tế và áp dụng các chiến lược để đảm bảo tính bền vững và ổn định của hệ thống tài chính là những mục tiêu quan trọng của các nền kinh tế hiện nay.

Trong đó, cải cách cơ cấu kinh tế và triển khai chính sách tài khóa gắn chặt với tăng trưởng là yếu tố vô cùng cần thiết để tăng năng suất và nguồn cung lao động, qua đó nâng cao sản lượng tiềm năng. Cùng với đó, cần nỗ lực giữ được sự tăng trưởng và tính dẻo dai của nền kinh tế. Chính sách tài khóa cần phải phù hợp với các nỗ lực cải cách cơ cấu và tận dụng các điều kiện chu kỳ thuận lợi để đưa nợ công vào một con đường bền vững trong khi vẫn có thể hỗ trợ các nhu cầu thực sự cần thiết và khả thi.

Ngoài ra, việc tăng cường hợp tác quốc tế cũng là một yêu cầu tất yếu đặt ra. Đối với rất nhiều các thách thức mà nền kinh tế toàn cầu phải đối mặt, mỗi hành động của từng quốc gia sẽ hiệu quả hơn nếu được hỗ trợ bởi sự hợp tác đa phương. Để kinh tế toàn cầu tiếp tục hội nhập và mở rộng hơn, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách cần tránh các biện pháp bảo hộ và nỗ lực nhiều hơn để đảm bảo các lợi ích từ tăng trưởng được chia sẻ rộng rãi hơn.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,80
4,80
5,20
5,80
6,00
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,70
4,70
5,00
5,50
5,50
6,20
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,10
5,40
6,00
6,00
6,80
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,00
5,10
5,20
5,70
5,80
6,30
6,90
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,40
4,50
5,00
5,80
5,70
6,90
7,20
DongA Bank
-
0,30
0,30
0,30
4,90
5,00
5,20
6,10
6,40
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.680 22.750 26.538 26.855 29.583 30.057 196,50 200,25
BIDV 22.680 22.750 26.521 29.831 29.610 30.048 197,16 200,10
VietinBank 22.670 22.750 26.506 26.874 29.584 30.123 197,09 200,55
Agribank 22.675 22.750 26.498 26.831 29.632 30.072 19718 20032
Eximbank 22.670 22.760 26.503 26.849 29.698 30.085 197,71 200,28
ACB 22.680 22.750 26.525 26.857 29.819 30.117 197,94 200,43
Sacombank 22.677 22.770 26.577 27.110 29.798 30.162 197,91 200,98
Techcombank 22.670 22.770 26.404 27.003 29.504 30.186 198,38 202,94
LienVietPostBank 22.660 22.750 26.537 26.853 29.793 30.053 198,50 200,21
DongA Bank 22.680 22.750 26.530 26.830 29.730 30.060 197,60 200,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.280
36.500
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.280
36.480
Vàng SJC 5c
36.280
36.500
Vàng nhẫn 9999
35.250
35.650
Vàng nữ trang 9999
34.950
35.650