10:08 | 07/02/2014

Kéo tư nhân tham gia xử lý nước thải

Ông Lê Duy Hưng, chuyên gia quản lý đô thị cao cấp của WB khuyến cáo, Việt Nam phải phấn đấu đáp ứng được nhu cầu vốn này, nếu không muốn chi trả tới 780 triệu USD/năm, tương đương 1,3% GDP, để bù vào thiệt hại kinh tế do vệ sinh kém.

Vốn lớn vẫn không xuể

Vốn đầu tư vào lĩnh vực vệ sinh đô thị tại Việt Nam trong thập niên vừa qua đạt 150 triệu USD/năm, chiếm 0,45% GDP hàng năm, với tổng mức đầu tư cho thoát nước và xử lý nước thải giai đoạn 1995 - 2009 khoảng 2,1 tỷ USD. Tuy nhiên, nhu cầu vốn cho lĩnh vực này vẫn rất cao trong giai đoạn tới. Dự kiến cần tới 8,3 tỷ USD để cung cấp đủ dịch vụ thoát nước cho khoảng 36 triệu người, tính theo quy mô dân số đô thị năm 2025.

Những thông tin trên được Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra trong một báo cáo công bố hồi giữa tháng 1/2014, cho thấy nhu cầu vốn của lĩnh vực quản lý nước thải ở Việt Nam là rất lớn. Ông Lê Duy Hưng, chuyên gia quản lý đô thị cao cấp của WB khuyến cáo, Việt Nam phải phấn đấu đáp ứng được nhu cầu vốn này, nếu không muốn chi trả tới 780 triệu USD/năm, tương đương 1,3% GDP, để bù vào thiệt hại kinh tế do vệ sinh kém.


Ảnh minh họa

Vấn đề quản lý nước thải cũng được Bộ Xây dựng lưu ý trong hội nghị tổng kết ngành cuối năm 2013 vừa qua. Theo đó, cả nước hiện có khoảng 50 trạm xử lý nước thải tập trung, nhưng chỉ có 24 trạm đang vận hành với tổng công suất xử lý ước chừng 670.000 m3/ngày đêm. Khoảng 26 trạm xử lý nước thải với tổng công suất 1.435.000 m3/ngày đêm vẫn đang trong quá trình xây dựng. Với hệ thống hạ tầng còn yếu kém và thiếu hụt như vậy, hầu hết nước thải hiện nay được xả thẳng ra hệ thống tiêu thoát nước bề mặt. Chỉ có 10% lượng nước thải được xử lý. Và trong khi 90% hộ gia đình xả nước thải vào bể tự hoại, chỉ 4% lượng phân bùn được xử lý. Công tác quản lý phân bùn ở hầu hết các thành phố còn yếu kém…

Chính vì vậy, đầu tư vào lĩnh vực cung cấp nước và vệ sinh môi trường đang trở thành một chủ đề nóng, được đưa ra thảo luận tại Diễn đàn Đối tác phát triển năm 2013. Nhiều chuyên gia và các đối tác, nhà tài trợ trước đây của Việt Nam khuyến cáo, đã tới lúc tạo cơ chế khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân trong cung cấp dịch vụ nước và vệ sinh môi trường.

Cần cơ chế tính phí phù hợp

10 năm qua, vốn đầu tư vào vệ sinh môi trường đô thị, đặc biệt là thu gom và xử lý nước thải ở các thành phố lớn và trung bình ngày càng tăng. Tuy nhiên, nguồn lực chủ yếu vẫn dựa vào vốn ODA. Cho tới nay, Việt Nam mới thực hiện được rất ít dự án thoát nước và xử lý nước thải có sự tham gia của khối tư nhân.

Không chỉ bị hạn chế về nguồn vốn, việc phân bổ vốn giữa các hạng mục như đầu tư xây dựng công trình xử lý và phát triển hệ thống thu gom còn chưa cân đối, hiệu quả đầu tư chưa cao. Hầu hết các DN chịu trách nhiệm thoát nước và xử lý nước thải chỉ vận hành hệ thống theo “đặt hàng” của chính quyền thành phố, do ngân sách thành phố trực tiếp chi trả. Việc cấp lượng ngân sách cố định hàng năm để vận hành hệ thống khiến DN không thể đầu tư phát triển, hoặc tìm cách tối ưu hóa hệ thống này.

Vấn đề đã được các chuyên gia của WB chỉ ra, đó là Việt Nam chưa có các chính sách ưu đãi để khuyến khích khối tư nhân tham gia lĩnh vực thu gom và xử lý nước thải. Biểu phí chưa phù hợp và hệ thống quy phạm pháp luật kém hiệu quả là những nguyên nhân chính cản trở sự tham gia của khối tư nhân. Do đó, WB đề xuất cần sớm ban hành chính sách khuyến khích khối tư nhân tham gia vào lĩnh vực vệ sinh môi trường. Các yếu tố cần chú trọng đầu tiên là tăng khả năng tiếp cận vốn vay và tăng phí thoát nước nhằm đảm bảo thu hồi chi phí vận hành, bảo dưỡng.

Chính quyền địa phương và các đơn vị cung cấp dịch vụ cần cân nhắc lập lộ trình tăng doanh thu và tiến tới thu hồi chi phí, do người tiêu dùng chi trả thông qua giá dịch vụ thoát nước. Mức thu hồi chi phí phải đảm bảo đáp ứng nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền. Có thể tăng dần giá dịch vụ theo thời gian, đồng thời hỗ trợ tài chính cho các hộ nghèo xây dựng công trình vệ sinh thông qua giảm giá hoặc các chương trình tài trợ như tín dụng vi mô và quỹ quay vòng.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng cần phát triển các chính sách và cơ chế phù hợp về tài chính cho lĩnh vực vệ sinh, kể cả đầu tư và vận hành, bảo dưỡng. Các nguồn tài chính có thể bao gồm cả vốn vay, viện trợ, trái phiếu Chính phủ, các chính sách ưu đãi về thuế và phí, các mô hình hợp tác công tư và nguồn tài chính sáng tạo khác…

Ngọc Khanh

Nguồn :

Ngân hàng
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
1,00
1,00
-
4,00
4,50
4,90
5,30
5,40
6,00
6,20
BIDV
-
-
-
4,50
4,50
5
5,30
5,40
6,80
6,30
VietinBank
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
-
-
Eximbank
1,00
1,00
1,00
4,70
4,80
5
5,50
5,60
6,10
6,70
ACB
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,50
5,10
5,30
5,70
6,30
Sacombank
-
-
-
4,30
4,40
4,60
5,10
5,50
5,70
6,30
Techcombank
0,50
0,50
0,50
4,60
4,75
4,85
5,25
5,50
6,15
6,46
LienVietPostBank
1,00
1,00
1,00
4
4,50
5
5,30
5,40
6,30
6,80
DongA Bank
-
-
-
4,30
4,50
4,90
5,30
5,60
6,60
-

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 21.325 21.375 23.668 23.952 32.526 33.050 175,63 178,99
BIDV 21.325 21.375 23.677 23.945 32.559 33.039 176,18 178,99
VietinBank 21.310 21.375 23.629 23.995 32.468 33.105 175,81 179,21
Agribank 21.315 21.380 23.601 23.993 32.545 33.078 176,21 179,17
Eximbank 21.310 21.380 23.673 23.942 32.658 33.030 176,91 178,92
ACB 21.310 21.380 23.694 23.975 32.745 33.050 176,91 179,01
Sacombank 21.300 21.390 23.735 24.070 32.622 33.097 177,77 180,08
Techcombank 21.315 21.390 23.345 24.151 32.332 33.107 175,91 179,69
LienVietPostBank 21.310 21.380 23.447 23.958 32.734 33.067 174,88 178,96
DongA Bank 21.320 21.380 23.690 23.910 32.700 32.960 176,90 178,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
35.390
35.510
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
35.390
35.490
Vàng SJC 5c
35.390
35.510
Vàng nhẫn 9999
32.640
33.940
Vàng nữ trang 9999
32.040
32.940