14:00 | 27/02/2019

Khẳng định bước đi trong mô hình phát triển

Nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng là một trong những đích quan trọng mà ngành Ngân hàng tiến tới để đạt được những cam kết của Chính phủ Việt Nam với cộng đồng tài chính quốc tế.

Lực đẩy mới tài chính vi mô
Tiềm lực tài chính quốc gia tăng lên đáng kể

Một trong những giải pháp cho vấn đề này là phải phát triển các định chế tài chính để có thể lấp đầy các khoảng trống trên thị trường tài chính. Điển hình như các công ty tài chính, các Quỹ Tín dụng nhân dân và các tổ chức tài chính vi mô. Những định chế tài chính này đã được NHNN quan tâm phát triển để tăng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính của người dân, giảm vấn nạn tín dụng đen.

Ảnh minh họa

Việc mở rộng cho vay tiêu dùng ở khu vực xa đô thị của các định chế tài chính đi liền với việc tuân thủ nghiêm ngặt khuôn khổ pháp lý sẽ có tác động tích cực đáp ứng nhu cầu nâng cao đời sống xã hội và giảm vấn nạn tín dụng đen. Chính vì vậy, tại Chỉ thị 01/2019/CT-NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2019, Thống đốc NHNN  yêu cầu các TCTD phải nghiên cứu bố trí nguồn vốn cần thiết để phát triển các gói sản phẩm cho vay tiêu dùng phù hợp nhu cầu phục vụ đời sống chính đáng của người dân.

Chẳng hạn, mô hình công ty tài chính - một loại hình TCTD phi ngân hàng - đã có hành lang pháp lý hoạt động từ khi có Pháp lệnh ngân hàng năm 1990 và đã được NHNN quan tâm phát triển mô hình từ nhiều năm nay. Từ mô hình công ty tài chính trực thuộc các tập đoàn kinh tế đến độc lập và công ty con của các NHTM.

Trong lịch sử (trước năm 2007) loại hình TCTD phi ngân hàng này vẫn chỉ dừng lại ở bước đầu hình thành và chiếm một vị trí khá khiêm tốn trong hệ thống kinh doanh tiền tệ ở Việt Nam. Mức tăng trưởng tín dụng bình quân hàng năm không cao so với các NHTM. Thị phần nhận tiền gửi và cho vay hàng năm của các công ty tài chính chỉ chiếm từ 1,5% đến 2% trong tổng dư nợ cho vay toàn hệ thống. Quy mô vốn chủ sở hữu cũng như mạng lưới kinh doanh của các công ty tài chính cũng còn hạn hẹp.

Bên cạnh đó, còn có một số công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính có tỷ lệ nợ xấu đặc biệt cao, hiệu quả sử dụng vốn thấp, vốn khả dụng chiếm tỷ lệ cao trong khi đó, tiền gửi tại các TCTD chiếm tới trên 90% vốn khả dụng. Điều này cho thấy, khung pháp lý và mô hình phát triển của loại hình này chưa phù hợp với tiềm năng phát triển.

Chính vì vậy, để phát triển TCTD phi ngân hàng này, NHNN đã có sự cải cách mạnh mẽ khung pháp lý và mô hình phát triển công ty tài chính. Từ năm 2014 cho đến nay, đặc biệt là việc ban hành Thông tư số 43/2016/TT-NHNN, ngày 30/12/2016 về cho vay tiêu dùng của công ty tài chính đã tạo ra một cú hích cho các công ty tài chính mở rộng lĩnh vực cho vay cá nhân với mục đích tiêu dùng. Dư nợ tín dụng tiêu dùng tăng gấp hơn 5 lần so với dư nợ vay tiêu dùng năm 2012, chiếm gần 18% tổng dư nợ cho vay toàn hệ thống.

Theo thống kê tính đến cuối năm 2018 các công ty tài chính tiêu dùng có tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) với mức 13,83%, đứng top đầu trong hệ thống các TCTD. Sự phát triển này khẳng định mô hình phát triển các định chế tài chính phi ngân hàng đang phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội hiện nay. Đồng thời, đáp ứng tốt yêu cầu tăng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của người dân và phục vụ nhu cầu đời sống xã hội ngày càng nâng cao của người dân.

Thế nhưng, lãi suất cho vay tiêu dùng của các công ty tài chính hiện nay vẫn cần được kiểm soát tốt hơn nữa để tạo niềm tin cho người dân vào hệ thống ngân hàng nói chung đi đôi với đó là thông tin truyền thông đến người vay tiêu dùng.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700