08:00 | 14/02/2019

Khi bền vững là nội hàm

Với tăng trưởng cao trong khi “chất” tăng trưởng cũng được nâng lên, điều mà mọi người kỳ vọng là “chất” sẽ phải trở thành nội hàm của tăng trưởng nhanh trong năm nay và những năm tới.

Triển vọng 2019: Vận hội mới – Yêu cầu mới
Nền tảng tạo sức bật mới
Dự cảm và niềm tin

Với các nước phát triển, có được mức tăng trưởng kinh tế 1-2%/năm đã rất “có ý nghĩa”. Nếu đạt được mức 3-4%/năm thì thực sự là điều tuyệt vời. Nhưng đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, con số đó phải đạt gấp 2, 3 lần thì mới có cơ hội vươn lên trong nấc thang phát triển, đuổi kịp các nước “chiếu trên” và cũng là con đường duy nhất để tránh được nguy cơ tụt lại phía sau.

Ảnh minh họa

Đó là mới chỉ nói về mặt số học, còn chất lượng tăng trưởng (yếu tố cốt lõi) ấy ra sao lại còn là câu chuyện khác. Trong năm 2018, Việt Nam đã có những thành tựu cả về mặt số và chất lượng tăng trưởng. Tốc độ tăng trưởng GDP 7,08%; xuất siêu tới 7 tỷ USD... là những con số mà có lẽ tất cả các nước đang phát triển khác đều mơ ước.

Đồng thời, chất lượng tăng trưởng cũng ghi nhận những cải thiện tích cực, thể hiện qua tốc độ tăng năng suất lao động tăng dần và hệ số ICOR giảm dần so với các năm trước. Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát dưới 4%; tăng trưởng tín dụng 14% - thấp hơn nhiều so với mức 17, 18% của các năm trước; tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn dưới 6%, với tốc độ giảm nghèo vượt mục tiêu đề ra…

Dù biết việc nếu chỉ lấy một thời khắc (năm 2018) để soi xét hay đưa ra kết luận cho cả một quá trình là thiếu cơ sở và vội vàng. Nhưng kết quả đạt được của 2018 vẫn rất có ý nghĩa. Và ý nghĩa lớn nhất chính là hành động và những kết quả đạt được đã tạo được niềm tin, rằng “tăng trưởng nhanh và bền vững” không còn chỉ là khẩu hiệu, mà chúng ta có thể làm được chứ không nhất thiết phải đánh đổi hay lựa chọn giữa chất lượng và tốc độ tăng trưởng.

Tất nhiên, để chất lượng trở thành nội hàm của tăng trưởng nhanh thì còn nhiều việc phải làm. Ví dụ, thể chế đã thực sự tốt chưa? Môi trường kinh doanh đã thực sự thuận lợi và DN không còn phàn nàn? Cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực chất lượng cao đã sẵn sàng phục vụ cho những nhu cầu phát triển mới? Tất cả đang là những câu hỏi chưa có câu trả lời một cách tự tin… Bởi vậy, dù những kết quả đạt được vừa qua là rất đáng khích lệ nhưng các nỗ lực trong chính sách, quyết liệt trong hành động để hiện thực hóa khát vọng đã đến lúc cần trở thành mệnh lệnh hành động.

Và một khi chất đã thực sự trở thành nội hàm, thì tăng trưởng nhanh là điều mà ai cũng mong mỏi và có quyền kỳ vọng phải đạt được. Hiện Việt Nam đã nằm trong nhóm nước có thu nhập trung bình thấp nên ước vọng để vươn lên nhóm nước có thu nhập trung bình cao và tiếp đó là nhóm nước có thu nhập cao là điều rất đỗi bình thường. Nhưng ước vọng phải đi cùng với hành động, thậm chí phải hành động rất nhanh, rất quyết liệt, đột phá và sáng tạo trong bối cảnh CMCN 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay. Nỗ lực càng phải nhân lên bởi một tin không vui là chúng ta đang bước qua sườn bên kia của thời kỳ dân số vàng. Chúng ta không thể chấp nhận số phận “già trước khi giàu” với nhiều cơ hội bị bỏ lỡ!

Với tăng trưởng cao trong khi “chất” tăng trưởng cũng được nâng lên, điều mà mọi người kỳ vọng là “chất” sẽ phải trở thành nội hàm của tăng trưởng nhanh trong năm nay và những năm tới. Tất nhiên làm sẽ không dễ như nói. Bởi lịch sử kinh tế thế giới cho thấy, rất nhiều nền kinh tế lớn, phát triển hiện nay thì trong quá khứ cũng không cùng lúc đạt được cả hai mục tiêu này. Điều đó cho thấy, việc tích hợp được cùng lúc hai yếu tố dường như mâu thuẫn ấy không dễ để khả thi, nhưng không phải là không làm được.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.150 23.250 26.012 26.742 29.910 30.389 204,22 213,92
BIDV 23.150 23.250 25.984 26.712 29.914 30.394 204,75 209,80
VietinBank 23.147 23.257 25.988 26.723 29.877 30.517 204,83 211,33
Agribank 23.150 23.240 25.988 26.362 29.929 30.390 204,71 208,43
Eximbank 23.140 23.240 25.927 26.274 29.970 30.372 205,66 208,42
ACB 23.165 23.245 25.922 26.257 30.046 30.357 205,88 208,54
Sacombank 23.102 23.264 25.949 26.410 30.023 30.435 204,85 209,42
Techcombank 23.130 23.250 25.752 26.604 29.679 30.555 204,20 211,24
LienVietPostBank 23.140 23.240 25.937 26.394 30.038 30.458 205,04 208,74
DongA Bank 23.170 23.240 25.920 26.230 29.950 30.330 202,40 208,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.250
36.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.250
36.400
Vàng SJC 5c
36.250
36.420
Vàng nhẫn 9999
36.220
36.620
Vàng nữ trang 9999
35.800
36.400