14:00 | 20/05/2019

Khi dứa không mang vị ngọt

Người dân ồ ạt tăng diện tích. Trong khi, đầu ra lại quá phụ thuộc vào thương lái

Sơ chế nông sản tại nguồn - lợi cả đôi đường
Tư duy “ăn xổi” đang làm khó nông sản Việt
Cho vay theo chuỗi liên kết: Cần xây dựng nhóm tiêu chí cơ bản

Một điệp khúc buồn

Để đầu tư cho 1ha dứa, người dân phải bỏ ra từ 60 đến 80 triệu đồng (chưa kể tiền công thu hái) và sau 18 tháng mới cho thu hoạch. Thế nhưng, với giá bán như bây giờ, năm nay, người dân Quỳnh Lưu, huyện trồng dứa lớn nhất tỉnh Nghệ An xác định không chỉ lỗ nặng, mà còn có thể mang thêm nợ nần.

Người trồng dứa ở Nghệ An đang gặp khó khăn

Những ngày gần đây, thời tiết ở Nghệ An nắng nóng dồn dập đã làm cho toàn bộ diện tích hơn 100 ha trồng dứa tại huyện Quỳnh Lưu chín sớm. Dứa chín đồng loạt buộc người dân phải vội thu hoạch, bán tống bán tháo cho thương lái. Nhưng cái khổ là giá dứa năm nay xuống quá thấp, chỉ khoảng 3 nghìn đồng/kg dứa loại 1. Năm ngoái, dứa còn được hơn 6 nghìn đồng/kg. Bởi vậy, năm nay dù được mùa nhưng người dân không vui nổi. Không chỉ mất giá, vì thu hoạch hàng loạt nên việc tìm đầu ra cho quả dứa cũng vô vàn khó khăn. Nhiều hộ dân phải mang dứa ra tận đường quốc lộ để bán cho người đi đường, với mong muốn vớt vát lại phần nào vốn liếng đã bỏ ra.

Trao đổi với chúng tôi, anh Nam, trú tại xã Tân Thắng, một trong những gia đình trồng nhiều dứa ở địa phương cho biết, nhìn chung năm nay dứa được mùa và chín sớm hơn mọi năm nên phải thu hoạch đại trà. Nhưng, năm nay do giá dứa xuống thấp như vậy nên thu hoạch 1 ha dứa mà chỉ thu về được 40 triệu đồng, tiền giống với phân bón còn chưa đủ, nói chi đến tiền công chăm sóc. Chưa hết, nếu thuê người thu hoạch cũng mất gần 200 nghìn người/ngày. Vì thế, năm nay gia đình anh xác định thua lỗ to. Những hộ phải vay mượn để đầu tư thì còn mang nợ nần.

Cùng cảnh ngộ, gia đình anh Nguyễn Văn Thanh, trú cùng xã cũng có 4 ha dứa đến kỳ thu hoạch. Nếu như những năm trước, gia đình anh có thể thu được gần 500 triệu đồng thì năm nay, ước tính chỉ đạt gần 200 triệu đồng. Anh Thanh cho biết thêm, chi phí trồng và chăm sóc 4 ha dứa trên “ngốn” đến hơn 300 triệu đồng. Nếu được mùa, được giá, anh sẽ có tiền trang trải nợ nần. Tuy nhiên, với tình hình như hiện nay, gia đình anh sẽ không có đủ tiền để tái trồng vụ sau... Những quả dứa vào vụ chín mọng đẹp, mà vẫn bị thương lái chê ỏng chê eo, ép giá xuống chỉ còn phân nửa so với năm ngoái. Đây cũng còn là tình cảnh chung của những hộ dân trồng dứa ở các xã như Quỳnh Thắng, Quỳnh Châu... của huyện Quỳnh Lưu-một nơi từ lâu đã trở thành “thủ phủ dứa” của Nghệ An, cũng như của cả khu vực Bắc Trung bộ.

Cần sự vào cuộc của chính quyền

Trao đổi với chúng tôi, đại diện địa phương các xã có diện tích trồng dứa nhiều, như xã Tân Thắng, Quỳnh Thắng hay Quỳnh Vinh... đều cho rằng giá dứa năm nay xuống thấp là do năm ngoái giá cao, lại được mùa nên năm nay người dân ồ ạt tăng diện tích trồng. Trong khi đó, đầu ra cho quả dứa lại quá phụ thuộc vào thương lái. Và khi cung vượt quá cầu thì giá sẽ “lao dốc”.

Ông Đậu Đức Năm - Trưởng phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Quỳnh Lưu cho biết, với giá dứa như hiện nay, người nông dân còn rất khó khăn để có thể trang trải các chi phí. Hiện, huyện cũng chưa có chính sách để trợ giá, cũng như lập các kênh để tiêu thụ sản phẩm để trợ giúp bà con. Vài năm gần đây, diện tích trồng dứa ở các xã trên địa bàn tăng mạnh là do tự phát, dù chính quyền các cấp thường xuyên nhắc nhở bà con không nên tự do mở rộng diện tích, theo kiểu mạnh ai người ấy làm. 

Điều đáng nói, trong khi diện tích trồng dứa tăng lên, lại hoàn toàn không có một đơn vị nào đứng ra bao tiêu sản phẩm cho bà con. Thời gian trước, có một nhà máy chế biến nông sản trên địa bàn có đứng ra làm việc này, nhưng giờ họ cũng thu mua rất ít. Ông Đậu Đức Năm cho biết thêm, trong những năm tiếp theo, huyện sẽ tích cực đẩy mạnh tuyên truyền bà con không tăng mạnh diện tích trồng dứa tự phát; Đảm bảo hài hòa giữa cung và cầu, mang lại lợi nhuận cho người dân. Đồng thời, cũng sẽ tổ chức liên hệ với các nhà máy chế biến nông sản trong và ngoài tỉnh, ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm lâu dài.

Thiết nghĩ, dứa là một cây trồng thích hợp với khí hậu và đất đai ở Quỳnh Lưu. Trong một vài năm trở lại đây, nó đã khẳng định được vai trò là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao tại địa phương. Vấn đề chính lại là chuyện quy hoạch, tổ chức sản xuất sao cho phù hợp, phát huy được tối đa hiệu quả của cây dứa.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700