13:33 | 31/05/2012

Khó khăn ngành vận tải biển

Khó khăn chung của kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tiêu cực đến ngành vận tải biển và những tác động này được dự báo sẽ kéo dài đến tận năm 2013. Hệ quả nhãn tiền là thị giá của nhóm cổ phiếu vận tải biển đều ở mức dưới mệnh giá, nhiều mã bị đưa vào diện cảnh báo, buộc phải rời sàn, thậm chí mất hết vốn.


Vận tải biển “chìm” theo sự ảm đạm của kinh tế thế giới (Ảnh: MH)

Khó đến năm 2013

Năm 2011, cùng với ảnh hưởng chung từ nền kinh tế thế giới, nhu cầu vận tải sụt giảm mạnh đã kéo giá cước vận tải giảm theo. Thêm vào đó, giá nguyên liệu đầu vào (xăng dầu) tăng mạnh cũng khiến cho biên lợi nhuận gộp của các doanh nghiệp đều giảm. Do sử dụng nợ vay cao, đặc biệt là nợ vay ngoại tệ, nên chi phí tài chính của các doanh nghiệp vận tải biển đều tăng dưới tác động tăng của tỷ giá và lãi suất. Khoản chi phí này đã tạo nên áp lực lớn cho lợi nhuận ròng nên hầu hết các doanh nghiệp trong ngành đều ghi nhận mức lợi nhuận thấp.

Bên cạnh đó, tình trạng ứ đọng hàng và áp lực cạnh tranh cũng là một khó khăn lớn của các doanh nghiệp. Năm 2011 cũng là năm bắt đầu xuất hiện hiện tượng tồn đọng hàng hóa tại một số khu vực Trung Đông. Các cảng được đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác cùng lúc khá lớn trong khi nhu cầu hàng hóa thông quan chưa nhiều đã đưa đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các cảng như hạ giá bốc xếp, lưu kho… có nơi thậm chí còn đưa ra mức giá thấp hơn thị trường.

Năm nay, các tuyến đường vận tải quốc tế tiếp tục gặp khó khăn bởi nhiều lý do. Đó là cuộc khủng hoảng nợ châu Âu vẫn chưa có tín hiệu kết thúc, các nền kinh tế khác vẫn trong tình trạng tăng trưởng chậm (đặc biệt là sự chậm lại của kinh tế Trung Quốc)… Tình trạng cung vượt cầu của thị trường thế giới dự báo vẫn còn kéo dài đến năm 2013. Theo đó, các tuyến vận tải của Việt Nam đi quốc tế dự báo vẫn chưa thể hồi phục trong năm nay. Diễn biến nghịch chiều của giá cước và giá đầu vào dự kiến vẫn tiếp diễn trong năm 2012. Các chỉ số thuê tàu vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục, đặc biệt là chỉ số thuê tàu hàng khô Batic (BDI Index) vẫn ở mức thấp từ đầu năm đến nay. Giá cước khó có thể điều chỉnh tăng mạnh do nhu cầu vẫn còn thấp, nguồn cung vượt cầu. Trong khi đó, giá xăng dầu tiếp tục được điều chỉnh tăng, khấu hao lớn từ các tàu mới sẽ khiến cho lợi nhuận gộp của các doanh nghiệp vận tải biển tiếp tục bị thu hẹp. Bên cạnh đó, áp lực thanh khoản cũng là khó khăn lớn cho doanh nghiệp khi mà các khoản nợ vay dài hạn gần đến hạn trả.

Cổ phiếu giá “bèo”

Thị trường chứng khoán hiện có 12 mã thuộc ngành vận tải biển; gồm DDM, MAC, MHC, PRC, SHC, SSG, VFR, VNA, VOS, VSG, VSP, VST. Tính từ đầu năm đến nay (30/5), ngoại trừ VSP, PRC, SSG giảm mạnh, mất lần lượt 64%, 40,2% và 23,5%; VSG và VOS giảm lần lượt 5,9% và 4,9%; số còn lại đều tăng giá, có những mã tăng rất mạnh như VFR (tăng 55,7%), DDM (tăng 33,3%)… Tuy nhiên, tăng là vậy nhưng thị giá của nhóm mã ngành này đều nằm ở mức dưới mệnh giá. Trong đó, VSG còn 1.600 đồng/CP; VSP còn 1.800 đồng/CP; MHC còn 2.600 đồng/CP; DDM 3.200 đồng/CP; VOS 3.900 đồng/CP; SHC 4.000 đồng/CP… Nhiều mã bị đưa vào diện cảnh báo như VNA, VOS… thậm chí bị buộc phải hủy niêm yết và có khả năng bị mất hết vốn như VSP (Báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2012 cho thấy, các dự án dang dở hầu như dậm chân tại chỗ từ đầu năm nay. Trong khi đó, chi phí lãi vay lên tới 107,7 tỷ đồng, gấp 4 lần cùng kỳ năm 2011; còn doanh thu thì đến từ việc… bán lỗ tài sản).

Theo giới chuyên gia, việc “mua tàu cho thuê” cộng với giá cước vận tải thấp và các khoản chi phí nợ vay ngân hàng là nguyên nhân chính khiến doanh nghiệp vận tải biển điêu đứng. Điều này cũng lý giải vì sao cổ phiếu của ngành vận tải biển liên tiếp bị cảnh báo và sắp tới nguy cơ bắt buộc hủy niêm yết hàng loạt do kết quả kinh doanh thua lỗ liên tiếp, mà cụ thể là VSP vừa bị HoSE buộc hủy niêm yết kể từ ngày 1/6/2012.

Trí Tri

Nguồn :

Ngân hàng
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
1,00
1,00
-
4,00
4,50
4,90
5,30
5,40
6,00
6,20
BIDV
-
-
-
4,50
4,50
5
5,30
5,40
6,80
6,30
VietinBank
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
-
-
Eximbank
1,00
1,00
1,00
4,50
4,60
4,80
5,50
5,60
6,10
6,70
ACB
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,50
5,10
5,30
5,70
6,30
Sacombank
-
-
-
4,30
4,40
4,60
5,10
5,50
5,70
6,30
Techcombank
0,50
0,50
0,50
4,40
4,55
4,55
5,05
5,30
5,95
6,36
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1
4,00
4,50
5,00
5,30
5,40
6,80
DongA Bank
0,50
0,55
0,60
4,30
4,50
4,90
5,30
5,60
6,60
6,70
Agribank
-
-
-
4,00
4,50
4,80
5,30
5,40
6,00

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 21.570 21.630 22.778 23.098 31.518 32.024 178,15 181,56
BIDV 21.570 21.630 22.798 23.068 31.536 32.019 178,70 181,59
VietinBank 21.560 21.630 22.765 23.101 31.470 32.060 178,46 181,75
Agribank 21.555 21.635 23.043 23.443 31.765 32.308 177,89 180,96
Eximbank 21.550 21.630 22.797 23.066 31.638 32.013 179,26 181,38
ACB 21.550 21.630 22.819 23.076 31.754 32.031 179,37 181,39
Sacombank 21.550 21.640 22.782 23.092 31.565 32.019 179,43 181,62
Techcombank 21.560 21.640 22.479 23.276 31.330 32.086 178,38 182,17
LienVietPostbank 21.550 21.630 22.581 23.068 31.725 32.019 177,29 181,51
DongABank 21.550 21.630 22.840 23.070 31.710 32.030 179,40 181,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
35.100
35.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
35.100
35.200
Vàng SJC 5c
35.100
35.220
Vàng nhẫn 9999
31.930
32.230
Vàng nữ trang 9999
31.430
32.230