16:00 | 08/02/2018

Không sợ hãi khi đầu tư chứng khoán ở năm 2018

Nhìn chung, với những nhà đầu tư cá nhân thích đầu tư chứng khoán, thì sau Tết Nguyên đán, cơ hội sẽ mở ra nếu nhà đầu tư biết phân bổ một phần danh mục đầu tư vào nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn.

Thị trường giảm và những kỷ lục
Đừng quá lo ngại với những phiên giảm sâu
Cơ hội vẫn còn

Năm 2018 là năm thứ ba mà Chính phủ nhiệm kỳ mới thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế giai đoạn 5 năm (2016 – 2020), trong đó cải cách thể chế và cải thiện môi trường kinh doanh là những trọng điểm được ưu tiên. Trong giai đoạn đặc trưng như trên, giới chuyên môn cho rằng thị trường chứng khoán, với vai trò là phong vũ biểu của nền kinh tế, sẽ là kênh đầu tiên phản ánh những chuyển động tích cực.

Niềm tin nhà đầu tư được củng cố nhờ sự nỗ lực của Chính phủ

Vậy, ở bất cứ lĩnh vực đầu tư nào, nhà đầu tư cũng có thể đặt niềm tin là có sự tăng trưởng bởi nỗ lực thực hiện cam kết của Chính phủ và sự cải thiện của các biến số vĩ mô. Môi trường kinh doanh tiếp tục được chú trọng cải thiện thông qua các chủ trương bãi bỏ điều kiện kinh doanh của Chính phủ và các bộ, ngành.

Cụ thể, Nghị định 08/2018/NĐ-CP bãi bỏ khoảng 600/1.200 điều kiện kinh doanh trong ngành Công thương. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chuẩn bị bãi bỏ 34% điều kiện kinh doanh và đơn giản hoá phần lớn các điều kiện khác. Bộ Xây dựng cũng chỉ đạo quyết liệt, không những bãi bỏ điều kiện mà bãi bỏ cả ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Các nhân tố đóng góp tích cực bao gồm sự phục hồi mạnh hơn của lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất công nghiệp dự báo tăng trưởng hơn 12% nhờ đóng góp của khu vực FDI (Samsung, Formosa...), khu vực dịch vụ (gồm bán buôn, bán lẻ, tài chính, bảo hiểm, vận tải...) dự báo sẽ đóng góp trên 50% vào tăng trưởng GDP.

Chưa kể, môi trường lãi suất thấp và tỷ giá ổn định sẽ làm tăng sự hấp dẫn cho các kênh đầu tư có mức sinh lời cao hơn như chứng khoán và bất động sản. Định hướng giảm lãi suất được nhà điều hành thể hiện khá rõ thông qua đợt cắt giảm 0,25 điểm phần trăm lãi suất OMO, cộng với nguồn tiền gửi dồi dào từ ngân sách nhà nước và môi trường lạm phát thấp (dự báo khoảng 3,8 – 4% cho năm 2018), nhìn chung cho rằng mặt bằng lãi suất năm 2018 sẽ chưa có nhiều biến động so với năm 2017.

Bên cạnh đó, dự báo Việt Nam sẽ có năm thứ ba liên tiếp ghi nhận thặng dư thương mại, cộng với nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào (khoảng 54,5 tỷ USD tính đến giữa tháng 1/2018), NHNN sẽ chủ động hơn trong can thiệp thị trường ngoại hối, giúp tỷ giá USD/VND chỉ dao động nhẹ trong khoảng 1 – 2%. So với kênh đầu tư bất động sản cần có vốn đầu tư cao và hạn chế về thanh khoản thì chứng khoán sẽ là kênh thu hút dòng tiền gửi tiết kiệm tốt hơn.

Với những lập luận trên, 2018 vẫn là năm khả quan cho các kênh đầu tư, đặc biệt là TTCK Việt Nam. Không chỉ dựa vào dòng vốn từ NĐT nước ngoài, tỷ suất sinh lợi khoảng 48% của VN-Index trong năm 2017 khiến TTCK trở nên hấp dẫn để lôi kéo kênh tiền gửi tiết kiệm gia nhập thị trường. Đây sẽ là lực cầu đối ứng hấp thụ nguồn cung cổ phiếu vào TTCK, dự báo cũng tăng mạnh không kém trong năm 2018, bao gồm nhóm doanh nghiệp nhà nước IPO, niêm yết mới và phát hành thêm.

Nhìn chung, với những nhà đầu tư cá nhân thích đầu tư chứng khoán, thì sau Tết Nguyên đán, cơ hội sẽ mở ra nếu nhà đầu tư biết phân bổ một phần danh mục đầu tư vào nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn. Điều này có thể mang lại tỷ suất lợi nhuận cao cho NĐT trong năm 2018. Tuy nhiên, ở mức P/E khá cao hiện tại, rủi ro đi cùng ở nhóm này cũng cao tương ứng nếu các quỹ mở đột ngột bị rút vốn. Thay vào đó, NĐT có thể sàng lọc các cơ hội đầu tư tại nhóm cổ phiếu vốn hóa trung bình đang có định giá P/E thấp và triển vọng kinh doanh tích cực cho mục tiêu trung – dài hạn.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,70
4,70
4,80
5,80
5,80
6,50
6,50
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
5,00
5,80
5,70
7,00
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.755 22.825 26.511 26.828 30.109 30.591 204,27 208,58
BIDV 22.745 22.815 26.553 26.787 30.307 30.571 206,94 208,80
VietinBank 22.762 22.842 26.451 26.829 30.069 30.829 205,81 209,21
Agribank 22.740 22.820 26.546 26.867 30.239 30.661 205,39 208,59
Eximbank 22.740 22.830 26.345 26.688 30.093 30.484 206,75 209,44
ACB 22.760 22.830 26.282 26.765 30.096 30.572 206,26 210,05
Sacombank 22.767 22.850 26.409 26.771 30.186 30.551 206,86 209,95
Techcombank 22.735 22.835 26.254 26.972 29.874 30.712 205,19 210,67
LienVietPostBank 22.720 22.820 26.440 26.891 30.283 30.516 205,64 209,69
DongA Bank 22.760 22.830 26.350 26.700 30.050 30.510 205,20 209,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.580
36.750
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.580
36.730
Vàng SJC 5c
36.580
36.750
Vàng nhẫn 9999
36.030
36.430
Vàng nữ trang 9999
35.680
36.380