09:08 | 14/06/2017

Không tạo đặc quyền cho TCTD

Các chính sách tại dự thảo Nghị quyết được đánh giá là bên cạnh bảo vệ quyền hợp pháp, chính đáng của người đi vay, đã và đang được thực thi, thì quyền hợp pháp và chính đáng của bên cho vay cũng cần phải được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.

Thu giữ tài sản bảo đảm: Đảm bảo không xâm phạm quyền con người
Xử lý nợ xấu phải đồng thời với ngăn ngừa nợ xấu phát sinh
Sớm thông qua Nghị quyết để giải quyết các “cục máu đông” cho nền kinh tế

Trong phần giải trình thêm trước Quốc hội đầu tuần này, Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng đã đề cập đến nhiều khía cạnh đáng quan tâm của xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm (TSBD), cũng như hiệu ứng của Nghị quyết về xử lý nợ xấu của các TCTD khi được thực thi.

Xử lý nợ xấu hiệu quả sẽ giúp giảm chi phí tài chính của các TCTD, qua đó tạo điều kiện để giảm lãi suất cho vay

Dẫn quan điểm của Ngân hàng Thế giới, Thống đốc cho biết cơ quan này đã nhiều lần khuyến nghị Việt Nam cần tăng cường hơn nữa quyền của bên cho vay. Tuy nhiên, “Cơ quan soạn thảo cũng thấy rằng, Nghị quyết không tạo ra bất cứ đặc quyền hay ưu ái nào cho TCTD”, Thống đốc khẳng định.

Các chính sách tại dự thảo Nghị quyết được đánh giá là bên cạnh bảo vệ quyền hợp pháp, chính đáng của người đi vay, đã và đang được thực thi, thì quyền hợp pháp và chính đáng của bên cho vay cũng cần phải được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Bởi sâu xa hơn, việc xử lý nợ xấu hiệu quả sẽ giúp giảm chi phí tài chính của các TCTD, qua đó tạo điều kiện để giảm lãi suất cho vay và tăng khả năng tiếp cận vốn cho DN và nền kinh tế, đảm bảo an toàn hoạt động của các TCTD và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.

Liên quan đến ý kiến của một số đại biểu đề nghị về nguyên tắc xử lý nợ xấu không sử dụng ngân sách Nhà nước, Thống đốc cho biết, Chính phủ khi bàn vấn đề này cũng đã báo cáo Quốc hội rất nghiêm túc là Chính phủ không sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, quá trình xử lý nợ xấu và TSBĐ cũng liên quan đến việc trích lập dự phòng. Khi yêu cầu các TCTD sử dụng thu nhập để tăng cường trích lập dự phòng, chắc chắn cũng ảnh hưởng đến việc thu, nộp thuế DN.

Bên cạnh đó, khi tăng cường việc xử lý nợ xấu và trích lập dự phòng sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của các NHTM quốc doanh thì cũng ảnh hưởng đến cổ tức nộp cho ngân sách Nhà nước. Song đây là những tác động gián tiếp, NHNN sẽ tiếp thu ý kiến của các đại biểu và sẽ thể hiện trong dự thảo Nghị quyết, đảm bảo không sử dụng ngân sách Nhà nước để xử lý nợ xấu.

Về phạm vi xử lý nợ xấu, việc áp dụng Nghị quyết đối với các khoản nợ xấu hiện tại và các khoản nợ xấu phát sinh trong khoảng thời gian có hiệu lực của Nghị quyết là rất cần thiết. Bởi lẽ, nợ xấu luôn tiềm ẩn, phát sinh hàng ngày, song hành với hoạt động của hệ thống các TCTD.

Trong điều kiện áp dụng đồng bộ các giải pháp hạn chế nợ xấu thì tính trung bình nợ xấu mới phát sinh hàng năm khoảng từ 1,3 - 1,5% trên tổng dư nợ và cho vay đầu tư đối với nền kinh tế. Với mục tiêu tăng trưởng tổng dư nợ cho vay đầu tư đối với nền kinh tế bình quân hàng năm khoảng 16%, dự kiến nợ xấu phát sinh thêm trong giai đoạn 2017 - 2022 khoảng 350 nghìn tỷ đồng. Để duy trì mục tiêu kiểm soát nợ xấu ở mức dưới 3%, tổng nợ xấu cần xử lý là khoảng 640 nghìn tỷ đồng, bình quân mỗi năm phải xử lý gần 130 nghìn tỷ đồng.

Như vậy, nếu chỉ giới hạn xử lý nợ xấu đã ghi nhận đến 31/12/2016 số nợ xấu mới phát sinh trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực sẽ tiếp tục gặp vướng mắc về cơ chế. Thêm nữa, một TCTD có những khoản nợ xấu được khoanh đến ngày 31/12/2016 thì xử lý theo cơ chế của Nghị quyết này, còn những khoản nợ xấu phát sinh sau thì áp dụng theo các quy định hiện hành là rất bất cập.

Giải trình thêm về mục tiêu, kế hoạch thực hiện, Thống đốc Lê Minh Hưng cho biết, Nghị quyết số 24 của Quốc hội đã nêu rõ đến năm 2020 sẽ đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống các TCTD xuống dưới 3%. Để đảm bảo thực hiện mục tiêu này, sau khi Nghị quyết được ban hành, Chính phủ sẽ chỉ đạo các cơ quan của Chính phủ, trong đó đặc biệt là NHNN thực hiện những biện pháp quyết liệt để triển khai cơ chế, chính sách trong Nghị quyết đã cho phép. Đồng thời, NHNN với trách nhiệm của mình sẽ thực hiện đồng bộ các biện pháp, đặc biệt là điều hành khuôn khổ chính sách tiền tệ một cách thận trọng, linh hoạt để ổn định kinh tế vĩ mô, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hoạt động ngân hàng, nâng cao năng lực quản trị điều hành của các TCTD.

Cùng với đó, NHNN cũng sẽ tăng cường năng lực thanh tra giám sát và đảm bảo triệt để tuân thủ kỷ cương pháp luật trong việc thực hiện hoạt động tín dụng trong đó có hoạt động cho vay. Đặc biệt, NHNN sẽ xây dựng và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để tổ chức triển khai đề án cơ cấu lại TCTD gắn với xử lý nợ xấu đối với tất cả các TCTD trên cơ sở đề án được phê duyệt. NHNN sẽ chỉ đạo trực tiếp từng TCTD xây dựng phương án cơ cấu lại của từng tổ chức, trong đó có phê duyệt nội dung và chỉ tiêu về xử lý nợ xấu, kiểm soát nợ xấu cụ thể từng năm để trình NHNN phê duyệt và giám sát.

“Chúng tôi cho rằng, với những biện pháp quyết liệt như vậy cùng sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan sẽ phấn đấu đạt mục tiêu của Quốc hội đề ra trong việc xử lý nợ xấu, cũng như việc kiểm soát nợ xấu. Chúng tôi tin chắc với việc xử lý nợ xấu theo cơ chế cho phép của Nghị quyết này thì chi phí tài chính giảm và chắc chắn lãi suất cho vay đối với nền kinh tế sẽ giảm. Như vậy, hệ số an toàn vốn, tỷ lệ an toàn vốn của các TCTD được gia tăng, đảm bảo an toàn hoạt động của các TCTD trong thời gian tới”, Thống đốc khẳng định.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,70
4,70
4,80
5,80
5,80
6,50
6,50
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
5,00
5,80
5,70
7,00
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.740 22.810 26.464 26.781 30.080 30.562 204,66 208,58
BIDV 22.740 22.810 26.467 26.774 30.099 30.550 205,36 208,39
VietinBank 22.736 22.816 26.419 26.797 30.051 30.611 205,31 208,71
Agribank 22.730 22.810 26.648 26.969 30.281 30.704 202,97 206,12
Eximbank 22.720 22.810 26.438 26.782 30.174 30.568 206,32 209,01
ACB 22.750 22.820 26.448 26.780 30.278 30.581 206,61 209,20
Sacombank 22.748 22.830 26.518 26.873 30.286 30.648 206,16 209,23
Techcombank 22.720 22.820 26.198 26.913 29.857 30.696 204,94 210,41
LienVietPostBank 22.720 22.810 26.574 27.027 30.396 30.648 203,44 207,08
DongA Bank 22.740 22.810 26.490 26.790 30.210 30.600 204,60 208,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.500
36.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.500
36.700
Vàng SJC 5c
36.500
36.720
Vàng nhẫn 9999
35.950
36.350
Vàng nữ trang 9999
35.600
36.300