07:00 | 16/10/2019

Khu vực Đông Á - Thái Bình Dương: Tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu chững lại

WB dự báo tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển khu vực Đông Á-Thái Bình Dương giảm từ mức 6,3% năm 2018 xuống 5,8% năm 2019, đồng thời tiếp tục giảm xuống chỉ còn 5,7% và 5,6% trong 2 năm tiếp theo.

Vào tháng 10/2019, Ngân hàng Thế giới (WB) đã công bố báo cáo Cập nhật Kinh tế Đông Á - Thái Bình Dương với tiêu đề "Thích ứng với rủi ro".

Trong báo cáo, WB dự báo tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển khu vực Đông Á-Thái Bình Dương giảm từ mức 6,3% năm 2018 xuống 5,8% năm 2019, đồng thời tiếp tục giảm xuống chỉ còn 5,7% và 5,6% trong 2 năm tiếp theo.

Báo cáo cảnh báo rằng những rủi ro theo hướng suy giảm viễn cảnh tăng trưởng của khu vực đã tăng lên. Căng thẳng thương mại kéo dài giữa Trung Quốc và Mỹ khiến tình trạng bất định tăng cao, làm giảm tăng niềm tin giới đầu tư từ đó làm suy giảm tăng trưởng đầu tư trong khu vực. Bên cạnh đó, suy giảm tăng trưởng nhanh hơn dự kiến ở Trung Quốc, chính sách thắt chặt thương mại từ phía Mỹ, vấn đề Brexit chưa có lời giải giữa Anh và EU có thể làm suy yếu hơn nữa sức cầu bên ngoài đối với các mặt hàng xuất khẩu của khu vực.

Báo cáo cũng nêu rõ, căng thẳng thương mại tăng lên gây nguy cơ dài hạn cho tăng trưởng trong khu vực. Mặc dù một số nước trước đây hy vọng được hưởng lợi từ sự sắp xếp lại của trật tự thương mại toàn cầu, nhưng sự thiếu linh hoạt trong các chuỗi giá trị toàn cầu là yếu tố hạn chế sự vươn lên của các quốc gia tại khu vực trong ngắn hạn.

Các quốc gia trong khu vực sẽ hưởng lợi nếu tiếp tục định hướng mở cửa thương mại và tăng cường chiều sâu hội nhập thương mại

Nợ cao và đang tăng lên ở một số quốc gia cũng gây hạn chế về khả năng sử dụng các chính sách tài khóa và tiền tệ trong việc giảm nhẹ tác động của suy giảm kinh tế. Ngoài ra, bất kỳ thay đổi đột ngột nào về tình hình tài chính toàn cầu cũng dẫn đến chi phí vay nợ tăng cao cho khu vực, làm suy giảm tăng trưởng tín dụng, tiếp tục gây áp lực cho đầu tư tư nhân và tăng trưởng kinh tế trong khu vực.

Ông Andrew Mason, chuyên gia kinh tế trưởng của WB khu vực Đông Á - Thái Bình Dương nhận định, mặc dù các doanh nghiệp đang tìm cách né tránh thuế quan bằng cách di chuyển hoạt động sản xuất sang các quốc gia trong khu vực không bị đánh thuế, nhưng các quốc gia đang phát triển ở Đông Á và Thái Bình Dương khó có thể thay thế vai trò của Trung Quốc trong các chuỗi giá trị toàn cầu.

Đồng tình với nhận định trên của WB, Joseph Joseph Incalcaterra, Kinh tế trưởng về ASEAN của HSBC Global Research cho biết, chu kỳ thương mại toàn cầu đã chậm lại bất kể những gì đang xảy ra với căng thẳng thương mại Mỹ - Trung, do sự giảm tốc dần trong chu kỳ công nghệ và các đơn đặt hàng bán dẫn. Có một số dấu hiệu dịch chuyển năng lực sản xuất sang Việt Nam, Malaysia và Thái Lan, nhưng phần lớn điều này khó có thể bù đắp cho sự giảm tốc thương mại rộng lớn hơn. Mặc dù sự sụt giảm giá dầu gần đây đã giúp nâng cao chi tiêu của người tiêu dùng ở các nền kinh tế nhập khẩu dầu, Mỹ và Trung Quốc đang nối lại đàm phán, nhưng điều đó cũng không đủ để đưa tăng trưởng kinh tế của khu vực trở lại đúng hướng, ngắn hạn do hạ tầng còn hạn chế và quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ.

Để thích ứng khi rủi ro tăng lên, báo cáo của WB khuyến nghị những quốc gia có đủ dư địa tài khóa nên sử dụng các biện pháp tài khóa và tiền tệ để kích cầu nền kinh tế, đồng thời phải đảm bảo bền vững nợ và tài khóa. Các quốc đảo Thái Bình Dương đặc biệt cần chú ý quản lý và kiểm soát chi tiêu thận trọng trong hạn mức thu trung hạn của mỗi quốc gia.

Báo cáo cũng đưa ra gợi ý các quốc gia trong khu vực cũng sẽ hưởng lợi nếu tiếp tục định hướng mở cửa thương mại và tăng cường chiều sâu hội nhập thương mại khu vực. Hiện tại có 2 phương án có thể giúp mở rộng quan hệ hợp tác thương mại giữa các quốc gia trong khu vực, bao gồm việc triển khai Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), nhằm tập hợp các quốc gia ASEAN và 6 nước vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương và mở rộng Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) để huy động sự tham gia của các quốc gia đang phát triển khác ở khu vực.

Theo đánh giá của các chuyên gia WB, việc mở rộng các nền tảng thương mại quốc tế đó là cơ hội để nâng cao tăng trưởng năng suất thông qua xử lý những rào cản còn lại về thương mại hàng hóa và dịch vụ, đẩy mạnh hợp tác kinh tế. Hội nhập kinh tế chặt chẽ hơn còn giúp các Cộng đồng kinh tế trong khu vực như ASEAN hoàn thành mục tiêu trở thành thị trường kinh tế duy nhất - Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2025.

Tranh chấp thương mại Mỹ-Trung đang diễn ra trong điều kiện tăng trưởng toàn cầu chững lại cũng đặt ra sự cần thiết cho các quốc gia trong khu vực phải thực hiện cải cách nhằm cải thiện năng suất và đẩy mạnh tăng trưởng. Trong đó, các cải cách cần tập trung vào việc thay đổi các quy định pháp lý nhằm cải thiện môi trường thương mại và đầu tư, từ đó khuyến khích thu hút đầu tư và tạo thuận lợi lưu chuyển hàng hóa, công nghệ và kiến thức giữa các nền kinh tế trong khu vực.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.280
41.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.280
41.500
Vàng SJC 5c
41.280
41.520
Vàng nhẫn 9999
41.210
41.660
Vàng nữ trang 9999
40.700
41.500