13:03 | 03/05/2019

Kiên định lập trường ổn định kinh tế vĩ mô

Theo nhận định của TS. Lê Xuân Nghĩa - thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, kinh tế Việt Nam trong năm 2019 sẽ tăng trưởng thấp hơn so với năm 2018 và chậm lại trong những năm tới đây. Sự tăng trưởng chậm lại của nền kinh tế có thể tác động tới điều hành chính sách tiền tệ của NHNN.

Kinh tế vững tạo cơ hội cho cải cách
Tiếp tục củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát
TS. Lê Xuân Nghĩa 

Ông có thể nói rõ hơn về những tác động trên?

Nếu thặng dư thương mại giảm nhanh có thể gây áp lực lên tỷ giá hối đoái. Bởi xưa nay nhiều nước phải dùng đến chiêu bài phá giá để hỗ trợ xuất khẩu. Nhưng nếu phá giá lại tác động tới lạm phát. Trong khi áp lực lạm phát trong năm 2019 được dự báo còn lớn hơn năm 2018, nhất là khi giá các mặt hàng cơ bản như: xăng dầu, điện… đồng loạt tăng với mức tăng vượt dự kiến.

Dù loại trừ những yếu tố giá khác giảm như giá hàng hóa trên thế giới giảm mạnh… nhưng lạm phát trong năm 2019 có thể sẽ tăng thêm trên dưới 1% so với năm ngoái. Vì thế, NHNN sẽ đứng trước tình thế tiến thoái lưỡng nan về điều hành tỷ giá. Lạm phát tăng, tỷ giá cũng chịu áp lực nhất định, lãi suất không thể tránh khỏi sức ép tăng.

Còn đối với tín dụng, khi tăng trưởng kinh tế chậm lại mọi người thường kỳ vọng mở rộng tín dụng để kích thích hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này tạo sức ép cho hệ thống ngân hàng phải bơm tín dụng nhiều hơn vào nền kinh tế hỗ trợ cho tăng trưởng đạt mục tiêu.

Vậy, NHNN cần có giải pháp ra sao để ứng phó với những thách thức trên, thưa ông?

Theo tôi, thời gian tới NHNN cần lưu ý theo dõi chặt chẽ thặng dư thương mại, cán cân vãng lai… Bởi đây là những nhân tố tác động lớn đến tỷ giá hối đoái. Nếu thị trường có biến động thì NHNN có thể linh hoạt điều chỉnh tỷ giá nhích lên một chút. Còn hiện tại, tỷ giá vẫn trong tầm kiểm soát của NHNN chưa cần có biện pháp can thiệp. Tôi hy vọng, quý tới tình hình xuất khẩu được cải thiện, thặng dư thương mại sẽ tăng lên so với quý trước.

Đối với điều hành tín dụng, tôi cho rằng NHNN cũng sẽ có lập trường vững chắc, tiếp tục kiên định với mục tiêu kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức thấp. Mặc dù sự kiên định trên của NHNN có thể làm cho tăng trưởng kinh tế không đạt như mong muốn, nhưng ổn định kinh tế vĩ mô mới là điều quan trọng nhất. Vì vậy, NHNN dứt khoát giữ tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức vừa phải, đồng thời giám sát chặt chẽ đường đi của dòng vốn đó. Với cách điều hành trên của NHNN sẽ giúp lạm phát của Việt Nam được kiểm soát vững chắc.

Thời gian tới, theo tôi, NHNN nên cho phép ngân hàng nào xử lý nợ xấu tốt được tăng trưởng tín dụng cao hơn so với quy định chung chứ không nhất thiết phải áp dụng tiêu chuẩn theo Thông tư 41 quy định về tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Mà cứ căn cứ vào hệ số CAR của các ngân hàng để điều hành chỉ tiêu tín dụng.

Tôi cho rằng, mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 2019 ở mức 14% là phù hợp với sức hấp thụ cũng như cân đối vĩ mô khác. Nhưng mục tiêu trên có thể gặp khó nếu tình trạng thiếu vốn của các NHTM có vốn nhà nước không được giải quyết. Bởi đó là kênh cấp vốn chủ lực cho nền kinh tế.

Ông có gợi ý chính sách tháo gỡ nút thắt này không?

Tôi cho rằng, ngoài phương án Nhà nước cho phép các ngân hàng này giữ lại lợi nhuận để tăng vốn, có thể tính đến phương án nới room NĐTNN tại các ngân hàng trên. Một phương án nữa là cho phép các ngân hàng được phát hành trái phiếu hoặc trái phiếu chuyển đổi có kỳ hạn 2 – 5 năm và cho phép ngân hàng hạch toán trái phiếu này vào vốn tự có.

Nếu trái phiếu này có lãi suất đủ hấp dẫn có thể khuyến khích các NHTM khác hoặc thậm chí là NHNN mua để giúp các ngân hàng tăng vốn. Như ở Mỹ, khi các ngân hàng lớn gặp khó khăn về vốn, NHTW mua lại trái phiếu của những ngân hàng này; sau đó bán dần dần khi các ngân hàng đó phục hồi.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.120 23.270 25.168 26.002 27.630 28.073 210,85 219,15
BIDV 23.150 23.270 25.168 25.893 27.633 28.103 215,64 221,15
VietinBank 23.144 23.274 25.137 25.932 27.562 28.202 215,14 221,14
Agribank 23.135 23.240 25.178 25.568 27.651 28.115 215,58 219,53
Eximbank 23.150 23.260 25.202 25.551 27.757 28.140 216,54 219,53
ACB 23.145 23.265 25.165 25.511 27.765 28.077 216,42 219,41
Sacombank 23.117 23.277 25.159 25.611 27.734 28.138 215,60 220,16
Techcombank 23.148 23.288 25.973 25.964 27.437 28.328 215,04 222,32
LienVietPostBank 23.135 23.255 25.131 25.600 27.766 28.186 215,97 219,96
DongA Bank 23.150 23.230 25.230 25.550 27.760 28.130 213,10 219,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.600
41.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.600
41.950
Vàng SJC 5c
41.600
41.970
Vàng nhẫn 9999
41.550
42.050
Vàng nữ trang 9999
41.150
41.950