13:15 | 04/12/2019

Kinh tế năm 2020: Cần những quyết sách cụ thể

Thủ tướng chỉ đạo xây dựng Nghị quyết 01/2020 với những chỉ tiêu cụ thể cho bộ ngành thực hiện, song chỉ bao gồm các chỉ tiêu quan trọng. Đặc biệt cần chỉ ra những thách thức lớn, trong đó nhiều ngành, lĩnh vực khó khăn, dễ có nguy cơ dẫn đến đà tăng trưởng chậm mà chúng ta phải lường hết để có giải pháp như điện tử, ô tô, xe máy, nông sản xuất khẩu… 

Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, tạo động lực mới đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững
Mô hình tăng trưởng giai đoạn 2016-2020 vẫn chưa có sự thay đổi rõ rệt

Tìm giải pháp mới, đột phá, sáng tạo

Tạm yên tâm với các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2019, đây là thời điểm để hoạch định các chính sách cho năm “nước rút” 2020, nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2016-2020.

Mặc dù vậy, tại cuộc họp Chính phủ thường kỳ tháng 11, Thủ tướng Chính phủ vẫn chỉ đạo phải điều hành quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực theo đúng kế hoạch nhằm hoàn thành toàn diện mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Trong đó tập trung vào các vấn đề nổi cộm hiện nay, như phải có biện pháp kịp thời để bình ổn giá thịt lợn trong dịp cuối năm, tập trung ngăn chặn sự lây lan, phát tán, tiến tới khống chế dịch tả lợn châu Phi; quyết liệt hơn nữa trong việc triển khai các giải pháp hiệu quả để chống tàu thuyền của ngư dân khai thác hải sản trái phép tại vùng biển nước ngoài để gỡ thẻ vàng EU đối với thuỷ sản Việt Nam; tiếp tục đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt; đẩy nhanh tiến độ phân bổ và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2019; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án trọng điểm, nhất là các dự án ngành điện, bảo đảm cung ứng đủ điện cho sản xuất và sinh hoạt; đẩy nhanh công tác chuẩn bị để sớm triển khai các dự án trọng điểm ngành giao thông vận tải…

Cùng với đó, Thủ tướng chỉ đạo xây dựng Nghị quyết 01/2020 với những chỉ tiêu cụ thể cho bộ ngành thực hiện, song chỉ bao gồm các chỉ tiêu quan trọng. Đặc biệt cần chỉ ra những thách thức lớn, trong đó nhiều ngành, lĩnh vực khó khăn, dễ có nguy cơ dẫn đến đà tăng trưởng chậm mà chúng ta phải lường hết để có giải pháp như điện tử, ô tô, xe máy, nông sản xuất khẩu…

Với tinh thần đó, Nghị quyết cần đưa ra các giải pháp mới, đột phá, sáng tạo với yêu cầu phấn đấu, nỗ lực cao. Tái cơ cấu nền kinh tế mạnh mẽ hơn, tìm dư địa mới cho tăng trưởng.

TS. Nguyễn Đức Kiên - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cũng đánh giá, đà tăng trưởng của năm 2019 là tốt. Vì vậy Nghị quyết 01 phải có các chính sách để kéo được hiệu ứng tích cực của năm 2019 sang 2020. Điều đáng mừng của năm 2019 là chúng ta không phải bội chi ngân sách. Dự kiến, đến hết 11 tháng số thu ngân sách đã vượt số chi hơn 88.000 tỷ đồng. Nhờ đó ngân sách có nguồn chi ngay từ những ngày đầu năm của 2020. Điểm thuận lợi thứ 2 là vốn đầu tư từ ngân sách từ tháng 10 đã vươn lên đạt và tháng 11 vượt lên so với cùng kỳ năm 2018. Nếu Chính phủ giữ được tốc độ này thì giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách hứa hẹn sẽ tăng khá trong thời gian tới.

Nhiều áp lực trong năm “nước rút”

Đánh giá về triển vọng kinh tế trong năm 2020, TS. Đặng Đức Anh - Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF) thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực dịch vụ vẫn sẽ tiếp tục là hai khu vực dẫn dắt tăng trưởng chung.

Tuy nhiên điều đáng lo là mô hình tăng trưởng giai đoạn 2016-2020 vẫn chưa có sự thay đổi rõ nét; tăng trưởng vẫn chủ yếu phụ thuộc vào vốn, đóng góp của nhân tố vốn trong tăng trưởng vẫn chiếm tỷ lệ lớn. Trong khi đó, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch quá nhanh sang khu vực dịch vụ trong khi nền tảng công nghiệp còn yếu; công nghiệp hỗ trợ chậm phát triển, tính chất gia công còn lớn; các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao đóng góp còn thấp, chi phí dịch vụ logistics còn cao.

Bên cạnh đó, điểm đáng lo ngại trong tăng trưởng dài hạn là giai đoạn vừa qua hầu như không có công trình đầu tư quy mô lớn, tạo nền tảng cho giai đoạn tới. Đây sẽ là những điểm nghẽn cần tiếp tục tháo gỡ trong năm 2020 để làm tiền đề cho giai đoạn 2021-2025.

TS. Nguyễn Đức Kiên cũng lưu ý, cần chú trọng tới các chính sách liên kết giữa DN FDI và DN trong nước. Bởi nếu có chính sách tốt để liên kết DN trong nước với DN FDI thì sẽ đạt được hai mục đích là vực được DN trong nước lên, từ đó đẩy nhanh được ngành công nghiệp hỗ trợ; và tạo điều kiện cho DN Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Một lưu ý nữa là sức khoẻ của khối DN trong nước. Hiện nay số lượng DN dừng sản xuất, chờ giải thể bằng khoảng 50% DN thành lập mới. Đáng quan ngại hơn là tốc độ tăng của các DN giải thể, ngừng hoạt động, đóng cửa lại nhanh hơn tốc độ tăng của DN thành lập mới. Điều đó cho thấy môi trường kinh doanh chưa thực sự lý tưởng để nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh.

Trong khi theo nhiều chuyên gia tài chính để có nguồn lực hỗ trợ khối DN tư nhân trong nước, yêu cầu cấp bách là phải đẩy nhanh quá trình tăng vốn của 4 NHTM nhà nước. “Ngành Ngân hàng trong năm 2020 phải đảm bảo an toàn hệ thống tiền tệ quốc gia, trong đó đặc biệt là xử lý được hệ số an toàn của các ngân hàng theo đúng chuẩn Basel 2, nhất là với các NHTM Nhà nước nắm trên 50% vốn. Có như vậy thì vốn qua hệ thống ngân hàng quốc doanh mới đảm bảo ổn định, làm mồi để cả thị trường giảm lãi suất huy động xuống”, TS. Nguyễn Đức Kiên lưu ý.

Liên quan đến vấn đề tăng vốn cho các NHTM Nhà nước, tại cuộc họp báo Chính phủ vừa qua, Phó Thống đốc NHNN Việt Nam Nguyễn Thị Hồng cho biết, theo đánh giá của NHNN thì các NHTM cổ phần có vốn nhà nước trên 50% đang có tỷ lệ an toàn vốn rất sát ngưỡng so với quy định của Thông tư số 41/2016/TT-NHNN. Vì vậy, nếu không được tăng vốn thì bản thân các NHTM này sẽ phải hạn chế cấp tín dụng, thậm chí có thể sẽ phải dừng cấp tín dụng. Từ đó sẽ rất ảnh hưởng tới nhu cầu vốn đầu tư phát triển xã hội, nhất là bối cảnh Việt Nam hiện nay nhu cầu vốn đầu tư phụ thuộc rất lớn vào tín dụng ngân hàng.

“Chính vì tính cấp thiết như vậy, vừa qua NHNN được thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ đã báo cáo Quốc hội, đồng thời Ban cán sự Đảng NHNN cũng đã thừa uỷ quyền Ban cán sự Đảng Chính phủ báo cáo Bộ Chính trị để đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn về mặt pháp lý đối với quá trình tăng vốn này”, Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng thông tin.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.370
41.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.370
41.590
Vàng SJC 5c
41.370
41.610
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.760
Vàng nữ trang 9999
40.790
41.590