13:07 | 05/09/2018

Lãi suất huy động tăng nhẹ

Bước sang tháng 9, lãi suất tiết kiệm tại các NHTM không có nhiều biến động ở kỳ hạn 6 và 9 tháng, riêng lãi suất tiết kiệm tại các kỳ hạn dưới 3 tháng và trên 12 tháng mới được các ngân hàng điều chỉnh nhẹ để thu hút người gửi.

Lãi suất tăng chỉ mang tính thời vụ
Lãi suất kỳ hạn dài vào kỳ hấp dẫn

Đơn cử, lãi suất tiết kiệm tại Vietcombank tại nhiều kỳ hạn hầu như không thay đổi so với tháng trước. Chỉ duy nhất có lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng trở lên được Vietcombank điều chỉnh tăng từ 6,4% lên 6,5%.

Một số ngân hàng tăng lãi suất các kỳ hạn dài để cơ cấu lại nguồn vốn huy động

Tại BIDV, lãi suất tiết kiệm của ngân hàng này có phần nhỉnh nhất trong khối NHTM Nhà nước, khi lãi suất tiền gửi tại các kỳ hạn 24 tháng và 36 tháng ở mức 6,9%/năm. Tuy nhiên, tháng 9 này BIDV cũng chỉ điều chỉnh tăng ở các kỳ hạn 1, 2 và trên 13 tháng. Cụ thể, từ ngày 3/9, các mức lãi suất ở kỳ hạn 1 tháng, 2 tháng được điều chỉnh tăng 0,2% lên 4,3%; trong khi kỳ hạn 13 tháng tăng 0,1% lên 6,8%.

Ở khối NHTMCP, biểu lãi suất tiết kiệm trong tháng 9 hấp dẫn nhất ở mức trên 8%/năm mang đến nhiều cơ hội cho khách hàng gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, cũng như khối NHTM Nhà nước, để hưởng mức lãi suất trên 8%, người gửi cũng phải chọn những kỳ hạn gửi dài từ 13 tháng trở lên. Đơn cử, ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất trong nhóm NHTMCP thuộc về VietCapital Bank với mức 8,6%/năm cho kỳ hạn 24 tháng. Trong đợt điều chỉnh này, VietCapital Bank điều chỉnh lãi suất tại nhiều kỳ hạn khác nhau, nhưng chủ yếu tập trung từ kỳ hạn 8 tháng trở lên, với mức tăng 0,6-1,4%. VietCapital Bank trước nay luôn là ngân hàng thường xuyên đưa ra mức lãi suất huy động đầu vào cao hơn so với mức bình quân của hệ thống.

Eximbank đứng ở vị trí thứ nhì khi niêm yết lãi suất tiết kiệm ở mức 8%/năm cho kỳ hạn 24 và 36 tháng; TPBank đứng thứ 3 với 7,8%/năm cho kỳ hạn 24 tháng.

Theo thống kê của NHNN, lãi suất huy động tiền đồng tháng 8/2018 phổ biến ở mức 0,6-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,3-5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,3-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,5-7,3%/năm.

Nếu so sánh với cùng kỳ năm 2017, lãi suất tháng 9 năm nay hấp dẫn hơn rất nhiều. Ví dụ, lãi suất của ACB, tháng 9/2017, ngân hàng này áp dụng lãi suất 6%/năm đối với kỳ hạn 18 tháng (ngoại trừ những khoản tiền gửi từ 100 tỷ trở lên mới được hưởng lãi đến 7,4%/năm). Tháng 9 năm nay, lãi suất gửi tiết kiệm của ACB cao nhất đang ở mức 6,5%/năm.

Lãi suất tiết kiệm của các NHTM hấp dẫn trở lại trong thời gian gần đây được các chuyên gia tài chính lý giải chủ yếu là do yếu tố mùa vụ. Theo đó, nhu cầu tín dụng thường có xu hướng tăng cao trong những tháng cuối năm khi các DN bước vào chặng nước rút để hoàn thành kế hoạch năm. Trong khi nhu cầu tiền mặt của nền kinh tế thời gian này cũng rất cao khi DN thường có xu hướng rút tiền để chi trả lương, thưởng cho người lao động; người dân cũng rút tiền để chi tiêu dịp tết. Vì vậy, các ngân hàng phải đẩy mạnh huy động ngay từ bây giờ để dự phòng thanh khoản.

Thừa nhận điều này, lãnh đạo VietCapital Bank nói rằng mục tiêu chung của các ngân hàng thời điểm này là chuẩn bị cho nguồn vốn vào các tháng cuối năm, phục vụ nhu cầu sử dụng vốn tăng cao. Ngoài ra, từ ngày 1/1/2019, các ngân hàng chỉ được phép sử dụng 40% vốn huy động ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, vì vậy nhiều ngân hàng cần phải chuẩn bị trước nguồn vốn trung và dài hạn để cơ cấu lại nguồn vốn của ngân hàng mình.

Lãi suất tiết kiệm tháng 9/2018 tăng là một tin vui cho những khách hàng có nhu cầu gửi tiền tiết kiệm. Các chuyên gia kinh tế, so sánh tương quan về đầu tư, biểu lãi suất 7-8%/năm, cho thấy gửi tiền ngân hàng lấy lãi sẽ có lợi.

Trong khi đó, các kênh đầu tư khác như giữ USD lãi suất 0%/năm. Trường hợp tính đến việc trượt giá tiền đồng thì nên cân nhắc rằng: lạm phát năm nay được kiểm soát ở mức 4%, nếu cộng cả mức trượt giá 2-2,5%, gửi tiết kiệm bằng tiền đồng 7,8%/năm (tùy số tiền gửi) vẫn được hưởng lãi cao hơn giữ USD. Ngược lại, đối với vàng, ai cũng nhận thấy giá vàng giữ ổn định gần 2 năm nay. Nếu có biến động thì mức biến động không nhiều và tính chênh lệch mua vào bán ra cũng lớn khiến việc thu lãi ít…

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,20
4,60
5,30
5,50
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.310 23.390 26.762 26.081 30.260 30.745 204,29 210,70
BIDV 23.305 23.385 26.767 27.090 30.272 30.737 205,90 209,35
VietinBank 23.292 23.372 26.694 27.072 30.190 30.750 205,83 209,23
Agribank 23.300 23.385 26.754 27.089 30.289 30.728 206,00 209,46
Eximbank 23.280 23.380 26.742 27.099 29.349 30.754 206,72 209,48
ACB 23.300 23.380 26.754 27.099 30.437 30.752 206,64 209,30
Sacombank 23.304 23.396 26.810 27.172 30.459 30.821 206,59 209,67
Techcombank 23.280 23.390 26.505 27.232 30.033 30.876 205,27 210,60
LienVietPostBank 23.280 23.380 26.687 27.148 30.393 30.813 206,28 210,01
DongA Bank 23.300 23.380 26.770 27.080 29.360 30.730 205,30 209,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.510
36.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.510
36.650
Vàng SJC 5c
36.510
36.670
Vàng nhẫn 9999
34.690
35.090
Vàng nữ trang 9999
34.240
35.040