16:00 | 30/05/2018

Lãi suất tiền gửi ở ngân hàng ngoại

Từ đầu năm đến nay, trong khi các ngân hàng trong nước có xu hướng giảm lãi suất huy động thì các ngân hàng ngoại liên tục có những gói chương trình lãi suất huy động để thu hút người gửi tiền.

Duy trì chính sách điều hành lãi suất
Lãi suất huy động điều chỉnh giảm: Gửi sao có lợi?

Chẳng hạn, lãi suất huy động tiền đồng của Shinhan Bank hiện nay dao động từ 4,6%-5,6%/năm (kỳ hạn từ 6-12 tháng). Ngoại trừ USD, những loại ngoại tệ khác gửi vào Shinhan Bank đều có lãi suất trên dưới 1%/năm. Tương tự, biểu lãi suất tiền gửi tại CIMB, HSBC, SCB, UOB… dao động từ 6%/năm (kỳ hạn 12 tháng). Riêng HSBC, nếu gửi tiền trực tuyến tại ngân hàng khách hàng sẽ được cộng thêm 0,25%/năm so với biểu lãi suất niêm yết. 

Theo một phó giám đốc chi nhánh ngân hàng UOB, nhận thấy lãi suất chính là yếu tố mà khách hàng gửi tiết kiệm quan tâm hàng đầu, nên ngân hàng đã rất chú trọng đến việc thiết kế biểu lãi suất sao cho phù hợp với nhu cầu của người gửi tiền. Theo đó, trần lãi suất cho các kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng của ngân hàng khoảng 5,5%/năm còn đối với kỳ hạn trên 6 tháng lãi suất các ngân hàng huy động, dao động từ 6% trở lên. Ngoài lãi suất, phương thức nhận lãi khối ngoại tiếp tục cộng thêm cho những người nhận lãi cuối kỳ, mức lãi suất cộng thêm từ hình thức nhận lãi dao động từ 0,1-0,25%/năm.

Các ngân hàng ngoại chủ yếu nhắm vào phân khúc người Việt có thu nhập cao sử dụng dịch vụ khép kín

Nếu so với lãi suất tiền gửi của BIDV, Vietcombank, VietinBank… lãi suất gửi tiết kiệm của khối ngân hàng ngoại (sau khi cộng hết các lãi suất cộng thêm) đang cao hơn hẳn. Đơn cử, lãi suất gửi tiền tại những ngân hàng nêu trên dao động 5,1-5,6%/năm. Trong khi đó, cùng kỳ hạn thì một số ngân hàng ngoại đang có mức lãi suất huy động lên tới 6%/năm, tính cả các chi phí tặng thêm. Lãi suất gửi tiết kiệm cao nhất thị trường lúc này không còn thuộc về nhóm các NHTM quy mô nhỏ mà đã có sự góp mặt của các ngân hàng nước ngoài.

Theo ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc HSBC Việt Nam, phần lớn các ngân hàng ngoại đến nay vẫn trung thành với 2 mục tiêu quan trọng là dịch vụ tài chính DN và dịch vụ tài chính cá nhân. Thế nhưng, các ngân hàng ngoại có nghiêng về mảng dịch vụ cá nhân thông qua dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ thanh toán quốc tế… 

Điều này trở nên rõ nét hơn khi mà rất nhiều ngân hàng ngoại cung cấp dịch vụ cho vay qua thẻ hấp dẫn từ đầu năm đến nay. Trường hợp Shinhan Bank Việt Nam là một ví dụ,  từ khi mua lại mảng bán lẻ của ANZ, Shinhan Bank gia nhập thị trường rất nhanh. Trong đó, ngân hàng này đặc biệt ưu tiên phát triển các dòng sản phẩm vay tiện ích, đầu tư công nghệ cho ngân hàng số và mở rộng các chương trình ưu đãi dành cho thẻ tín dụng. 

Ngân hàng CIMB cũng không kém cạnh khi thông báo cho khách hàng biết việc vay vốn tiêu dùng dễ dàng. Theo chia sẻ của một nhân viên tín dụng tại ngân hàng này, nếu khách hàng gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng CIMB, khi cần tiền có thể cầm cố sổ tiết kiệm để vay với lãi suất ưu đãi. Tính theo tỷ lệ, lãi suất cầm cố sổ tiết kiệm mà ngân hàng này áp dụng không cao hơn nhiều so với lãi suất gửi tiết kiệm.

Không phải ngẫu nhiên Công ty Kiểm toán PwC nhận định các ngân hàng nội có ưu thế về mạng lưới chi nhánh và mối quan hệ xây dựng từ lâu với cộng đồng địa phương, trong khi các ngân hàng nước ngoài lại có thế mạnh về các sản phẩm phức tạp được kiểm chứng qua nhiều thị trường và những mối quan hệ quốc tế. Khối ngoại lại còn có ưu thế về lãi suất thấp nên các ngân hàng nội chịu nhiều áp lực. Nhưng một chuyên gia tài chính cho rằng, sự cạnh tranh sẽ mang lại điểm tích cực cho thị trường, giúp người dùng hưởng lợi.

Tính đến nay, Việt Nam có 9 ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập bao gồm ANZ Việt Nam, Hong Leong Việt Nam, HSBC Việt Nam, Shinhan Việt Nam, Standard Chartered Việt Nam; Public Bank Berhad, UOB Việt Nam, CIMB và ngân hàng Woori. Ngoài 9 gương mặt ngoại kể trên, còn hai ngân hàng liên doanh là Indovina Bank và Ngân hàng Việt Nga cùng hơn 50 chi nhánh, văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Song song với việc tăng số lượng ngân hàng ở Việt Nam, năm nay được đánh dấu là năm bùng nổ của khối ngân hàng ngoại vì họ đang triển khai nhiều sản phẩm huy động hấp dẫn người gửi tiền, cạnh tranh với khối ngân hàng nội địa.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.245 26.189 26.924 29.492 29.965 20838 21871
BIDV 23.155 23.245 26.171 26.534 29.508 29.968 20926 21289
VietinBank 23.142 23.242 26.110 26.925 29.442 30.002 20905 21555
Agribank 23.150 23.235 26.161 26.536 29.506 29.963 20914 21276
Eximbank 23.140 23.240 26.249 26.601 29.597 29.994 212,09 214,93
ACB 23.160 23.240 26.258 26.596 29.640 29.947 212,25 214,99
Sacombank 23.157 23.259 26.293 26.657 29.630 29.984 212,32 215,42
Techcombank 23.135 23.245 26.005 26.723 29.212 30.042 210,90 216,50
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.195 26.658 29.607 29.023 211,65 215,51
DongA Bank 23.160 23.230 26.270 26.570 29.560 29.930 211,00 215,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.670
Vàng SJC 5c
36.490
36.690
Vàng nhẫn 9999
36.370
36.770
Vàng nữ trang 9999
35.920
36.620