16:34 | 03/01/2019

Lạm phát 2019 sẽ đi về đâu?

Các chuyên gia dự báo trái chiều về khả năng giữ lạm phát đạt mục tiêu trong năm 2019. Tại Hội thảo “Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam năm 2018 và dự báo 2019” diễn ra ngày 3/1, thậm chí có ý kiến nêu “chưa biết sẽ thế nào”.

TIN LIÊN QUAN
Kiểm soát lạm phát: Thành công và thách thức
Mục tiêu xuyên suốt năm 2019 là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô
Lạm phát 2018: Sóng trồi sụt khác lạ

Phân tích các yếu tố tác động lên chỉ số giá tiêu dùng (CPI), TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính, cho rằng cả 3 yếu tố khiến cho lạm phát những tháng đầu năm 2018 tăng mạnh là giá dầu, giá thịt lợn và tỷ giá đều được dự báo sẽ giảm hoặc ổn định hơn trong năm 2019. Điều đó có nghĩa là nhiều khả năng lạm phát trong năm 2019 sẽ thấp hơn lạm phát trong năm 2018.

Theo ông Độ, có 3 kịch bản lạm phát cho năm 2019: Kịch bản trung bình là lạm phát sẽ tăng khoảng 0,14%/tháng (chưa tính điều chỉnh giá điện, giá dịch vụ y tế và giáo dục), tương đương với mức tăng của lạm phát cơ bản trong năm 2018.

Với mức tăng này, lạm phát cùng kỳ tháng 12/2019 sẽ tăng khoảng 1,7% và lạm phát trung bình sẽ chỉ ở mức trên 2%. Tuy nhiên, do Chính phủ sẽ điều chỉnh giá dịch vụ theo lộ trình nên lạm phát trung bình sẽ cao hơn, nhưng khả năng sẽ chỉ ở mức khoảng 3%.

Trong kịch bản thấp, giá dầu tiếp tục giảm và tỷ giá VND/USD chỉ tăng 1%, lạm phát cùng kỳ của tháng 12/2019 có thể chỉ ở mức 1% và lạm phát trung bình cả năm 2019 chỉ ở mức 2,5%.

Còn với kịch bản cao, giá xăng dầu tăng mạnh trở lại và tỷ giá có mức tăng tương đương với mức tăng của năm 2018, đồng thời Chính phủ vẫn điều chỉnh giá dịch vụ theo lộ trình, lạm phát trung bình cả năm 2019 sẽ vẫn thấp hơn mức 3,54% của năm 2018.

“Về tổng thể, có thể nhận định rằng mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới 4% trong năm 2019 gần như chắc chắn sẽ đạt được”, TS. Độ dự báo.

Ngược lại, TS. Nguyễn Minh Phong (Báo Nhân dân) lại cho rằng khó đạt mục tiêu giữ lạm phát dưới 4%, vì xu hướng chủ đạo của 2019 là khó hơn 2018. 

Hiệp định CPTPP đi vào thực thi sẽ gia tăng áp lực chi phí của doanh nghiệp, từ đó áp lực đầu ra tác động làm lạm phát tăng lên. Bên cạnh đó là tiếp tục lộ trình điều chỉnh các dịch vụ công...

“Năm 2018 có may mắn là giá dầu thấp, nhưng năm 2019 chưa chắc gặp may như thế và lạm phát có thể trên 4%”, TS. Nguyễn Minh Phong dự đoán.

Thận trọng hơn và không đưa ra con số cụ thể, TS. Nguyễn Ngọc Tuyến cho rằng lạm phát sẽ chưa biết thế nào vì năm 2019, tình hình kinh tế - xã hội - chính trị thế giới sẽ có biến động rất khó dự báo và hầu hết các tính toán đều cho rằng kinh tế thế giới năm 2019 sẽ khó khăn hơn 2018.

Bên cạnh đó, giá dầu thô sẽ có biến động bất thường, khó dự đoán. Chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung quốc khó có thể lắng dịu và nhiều khả năng sẽ càng căng thẳng hơn. Giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới có thể tăng cao hơn.

Kinh tế Việt Nam sẽ đứng trước các thử thách mới, nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất của Việt Nam nhập từ Trung quốc sẽ tăng cao, chi phí lớn sẽ làm cho khả năng cạnh tranh bị giảm sút và lợi nhuận sẽ thấp.

CPI năm 2018 tăng 3,54%, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra

Đóng góp quan điểm, TS. Vũ Đình Ánh (nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thị trường - Giá cả) thì dự báo lạm phát năm 2019 sẽ lặp lại kịch bản tương tự 2018, tuy có yếu tố giá nhiên liệu tăng cao hơn nhưng nếu rút được những bài học kinh nghiệm trong quản lý điều hành từ quá khứ thì mục tiêu lạm phát không phải là không thể đạt được.

Một “chuyên gia dự báo giá” khác, ông Phạm Minh Thụy (Viện Kinh tế - Tài chính) sau khi chạy mô hình kinh tế lượng đưa ra dự báo CPI bình quân năm 2019 so với năm 2018 của Việt Nam sẽ tăng ở mức 3,2 - 4,0%.

Trong đó, nếu Chính phủ không có những can thiệp chính sách mạnh vào thị trường thì CPI của Việt Nam bình quân năm 2019 so với năm 2018 sẽ tăng ở mức 3,72%. 

Nhưng nếu Chính phủ thực hiện những quyết sách mạnh về điều chỉnh giá một số hàng hóa quan trọng và nhạy cảm hoặc nới lỏng chính sách tiền tệ để tạo động lực cho tăng trưởng cao hơn... thì CPI của Việt Nam bình quân năm 2019 so với năm 2018 sẽ còn tăng cao hơn. 

Cùng quan điểm nền kinh tế bước vào năm 2019 với nhiều thách thức, trong đó lạm phát chịu tác động của nhiều yếu tố bất lợi, nhưng TS. Lê Quốc Phương (Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại, Bộ Công Thương) cho rằng Việt Nam cũng có rất nhiều thuận lợi để kiềm chế lạm phát.

CPI các năm gần đây đều thấp dưới 4%; lạm phát cơ bản các năm gần đây cũng đạt thấp dưới 2%; cung hàng hóa tương đối dồi dào; kinh tế vĩ mô ổn định... vì thế, nếu triển khai thực hiện tốt các giải pháp thì hoàn toàn có thể đạt mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4% trong năm 2019.

Phát biểu kết luận, PGS-TS. Phạm Văn Liên, Phó giám đốc Học viện Tài chính cho rằng để thực hiện kiểm soát lạm phát theo chỉ tiêu Quốc hội giao, công tác quản lý, điều hành giá năm 2019 cần tiếp tục thực hiện một cách thận trọng, linh hoạt và chủ động.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.353 26.224 29.231 29.730 201,36 214,48
BIDV 23.140 23.260 25.429 26.181 29.307 29.873 207,42 214,24
VietinBank 23.129 23.259 25.347 26.182 29.194 29.834 210,50 216,50
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.384 25.735 29.342 29.748 211,89 214,28
ACB 23.130 23.250 25.383 25.733 29.424 29.755 211,75 216,47
Sacombank 23.103 23.263 25.384 25.843 29.391 29.800 210,96 215,50
Techcombank 23.134 23.274 25.144 26.137 29.023 29.937 210,31 217,47
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.317 25.790 29.364 29.801 211,36 215,31
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.730 29.340 29.740 208,30 214,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.670
Vàng SJC 5c
41.400
41.690
Vàng nhẫn 9999
41.390
41.840
Vàng nữ trang 9999
40.870
41.670