12:00 | 08/11/2018

Lạm phát: Lại lo cho năm tới

Rõ ràng áp lực lạm phát năm 2019 có thể còn lớn hơn rất nhiều so với năm 2018, song chủ yếu vẫn là từ phía chi phí đẩy.

Phối hợp điều hành tốt đã giữ ổn định lạm phát cơ bản ở mức thấp
Giá xăng dầu đẩy CPI tháng 10 tăng 0,33%

CPI bình quân 10 tháng mới tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2017, thấp hơn nhiều mục tiêu mà Quốc hội đã đề ra. Trong khi đó, giá xăng vừa được điều chỉnh giảm khá mạnh, lần giảm thứ 2 trong vòng 15 ngày với mức giảm tổng cộng là 1.280 đồng/lít xăng RON95; giá các mặt hàng dầu cũng giảm. Giá xăng dầu giảm chắc chắn sẽ làm chậm lại đà tăng giá tiêu dùng trong tháng 11, từ đó càng củng cố thêm niềm tin lạm phát bình quân sẽ được kiểm soát dưới 4% đúng như mục tiêu mà Quốc hội và Chính phủ đã đề ra. Thế nhưng lạm phát đã thực sự hết lo, nhất là với năm 2019?

Ảnh minh họa

Tại kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, dự kiến sẽ được Quốc hội thông qua vào ngày 8/11, Chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát bình quân khoảng 4%. Tuy nhiên để đạt được mục tiêu này có thể sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với năm nay khi mà sức ép lạm phát đang ngày một gia tăng. Có thể kể ra đây hàng loạt các yếu tố đang tạo sức ép lớn đến lạm phát: như giá xăng dầu, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung; Fed tăng lãi suất, USD tăng giá, lộ trình điều chỉnh giá các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý…

Trong số các yếu tố này, ẩn số lớn nhất chính là giá xăng dầu. Việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân với Iran và tái khởi động các biện pháp cấm vận đối với quốc gia này, đặc biệt là hoạt động xuất khẩu dầu mỏ, có thể ảnh hưởng tới nguồn cung dầu toàn cầu, khiến giá dầu tăng cao. Trước khi Mỹ triển khai các biện pháp trừng phạt, Iran cung ứng khoảng 2,5 triệu thùng dầu mỗi ngày cho thị trường. Hiện xuất khẩu dầu của quốc gia này mới giảm xuống còn khoảng 1,5 triệu thùng/ngày, song giá dầu thế giới đã tăng lên tới 76 USD/thùng. Đó chính là lý do không ít chuyên gia dự báo nếu như Mỹ cấm vận toàn bộ hoạt động xuất khẩu dầu của Iran, giá dầu có thể tăng lên trên 100 USD/thùng nếu như các quốc gia xuất khẩu dầu khác không bù đắp nổi sự thiếu hụt nguồn cung của Iran.

Ngay cả khi giá xăng dầu thế giới ổn định thì giá xăng dầu trong nước chắc chắn sẽ tăng mạnh từ đầu năm tới khi thuế bảo vệ môi trường đối với xăng được tăng từ 3.000 đồng/lít lên 4.000 đồng/lít; dầu diesel tăng từ 1.500 đồng/lít lên 2.000 đồng/lít; dầu mazut tăng từ 900 đồng/lít lên 2.000 đồng/lít; dầu hỏa tăng từ 300 đồng/lít lên 1.000 đồng/lít.

Xăng dầu không những là mặt hàng tiêu dùng thiết yếu mà còn là nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Bởi vậy, việc giá xăng dầu tăng chắc chắn sẽ đẩy giá cả của nhiều loại hàng hóa khác tăng theo, từ đó tạo áp lực tăng lạm phát. Nhìn lại diễn biến giá cả tháng 10 có thể thấy rõ điều này khi mà đợt tăng giá xăng dầu ngày 6/10 đã góp phần khiến nhóm giao thông tăng tới 1,55%, từ đó đẩy CPI tháng 10 tăng 0,33%, cho dù toàn bộ các nhóm hàng khác chỉ tăng rất nhẹ, thấp hơn mức tăng của CPI chung, thậm chí giảm.

Một ẩn số khác là giá điện cũng rất có thể sẽ được điều chỉnh tăng trong năm 2019 sau khi đã được giữ ổn định trong suốt năm qua. Còn nhớ phát biểu tại phiên họp quý III của Ban chỉ đạo điều hành giá ngày 28/9, Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải cho biết, do tổng chi phí bị tăng lên năm 2018 và 2019 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) khoảng 20.735 tỷ đồng. Điều đó khiến có thể phải xem xét điều chỉnh giá điện bán lẻ điện trong năm 2019 theo quy định tại Quyết định số 34/2017.

Cũng giống như xăng dầu, điện không chỉ là mặt hàng tiêu dùng thiết yếu mà còn là đầu vào của nhiều ngành sản xuất. Bởi vậy, việc tăng giá điện chắc chắn sẽ khiến giá nhiều loại hàng hóa khác tăng theo.

Chưa kể các ẩn số từ bên ngoài rất khó kiểm soát như chủ nghĩa bảo hộ, đặc biệt là cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung có thể cản trở dòng lưu thông hàng hóa toàn cầu, từ đó đẩy tăng giá hàng hóa. Trong khi việc Fed tăng tốc thắt chặt tiền tệ cũng được dự báo sẽ hỗ trợ đồng USD tăng giá, tạo sức ép lớn đến tỷ giá và lạm phát tại nhiều thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam…

Rõ ràng áp lực lạm phát năm 2019 có thể còn lớn hơn rất nhiều so với năm 2018, song chủ yếu vẫn là từ phía chi phí đẩy. Bởi vậy, muốn kiểm soát được lạm phát năm 2019 theo đúng mục tiêu đã đề ra, một mình chính sách tiền tệ là không đủ mà cần có sự phối hợp đồng bộ của nhiều chính sách khác, bao gồm cả công tác điều hành giá cả thị trường. Đặc biệt, việc điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý cần phải được tính toán kỹ cả về liều lượng lẫn thời điểm, tránh tăng giá dồn dập sẽ đẩy kỳ vọng lạm phát tăng cao.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.265 23.355 26.184 26.655 29.920 30.399 199,16 206,20
BIDV 23.270 23.360 26.176 26.546 29.947 30.413 202,75 206,24
VietinBank 23.259 23.359 26.170 26.595 29.930 30.490 202,97 206,72
Agribank 23.260 23.350 26.137 26.479 29.989 30.437 202,26 205,73
Eximbank 23.250 23.360 26.193 26.544 30.064 30.465 203,74 206,47
ACB 23.270 23.350 26.218 26.556 30.164 30.475 203,85 206,47
Sacombank 23.273 23.365 26.226 26.588 30.136 30.500 203,65 206,72
Techcombank 23.245 23.360 25.928 26.649 29.716 30.560 202,30 207,59
LienVietPostBank 23.250 23.350 26.116 26.569 30.082 30.498 203,12 206,77
DongA Bank 23.280 23.360 26.240 26.540 30.090 30.460 202,50 206,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.390
36.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.390
36.530
Vàng SJC 5c
36.390
36.550
Vàng nhẫn 9999
34.610
35.010
Vàng nữ trang 9999
34.260
34.960