09:02 | 10/07/2019

Lợi suất trái phiếu giảm xuống mức kỷ lục

Lợi suất trái phiếu chính phủ tại hầu hết các nền kinh tế lớn trên toàn cầu đã rơi xuống thấp nhất trong mọi thời đại trong mấy ngày gần đây, phản ánh sự lo ngại của giới đầu tư về khả năng suy thoái kinh tế.

Theo đó, lợi suất trái phiếu 10 năm của Pháp và Đức đã rơi xuống mức thấp kỷ lục trong tuần trước, đồng loạt giảm xuống mức dưới 0% sau lời bình luận của ông Klaas Knot – Thống đốc NHTW Hà Lan và là quan chức của NHTW châu Âu (ECB) về việc nới lỏng tiền tệ với mục đích thúc đẩy lạm phát tại khu vực đồng tiền chung châu Âu. Lợi suất trái phiếu sau đó tiếp tục sụt giảm trước kỳ vọng người đứng đầu ECB trong tương lai - bà Christine Lagarde sẽ duy trì lập trường nới lỏng trong điều hành chính sách để thúc đẩy kinh tế khu vực.

Mỹ đe dọa sẽ áp thuế đối với 4 tỷ USD hàng hóa bổ sung từ khu vực EU

Lợi suất trái phiếu diễn biến ngược chiều với giá của chúng. Trong tuần trước, có thời điểm lợi suất trái phiếu 10 năm của Đức - một chỉ số tham chiếu quan trọng đối với tài sản đầu tư có thu nhập cố định của châu Âu và được coi là loại tài sản đầu tư an toàn - đã giảm xuống mức -0,398%. Trong khi đó, lợi suất trái phiếu 10 năm của Pháp đã giảm xuống mức -0,12%; của Bỉ lần đầu tiên đã giảm xuống dưới 0% và của Ý đã giảm xuống mức thấp nhất trong 14 tháng là 1,67%.

Trong bối cảnh kinh tế phải đối mặt với nhiều thách thức và bất ổn gia tăng, các nhà đầu tư có xu hướng dịch chuyển các khoản đầu tư của họ từ những tài sản rủi ro sang các tài sản an toàn hơn như vàng hay trái phiếu chính phủ. Xu hướng đang nổi lên tại khu vực châu Âu là do sự đi xuống của nền kinh tế Đức, gia tăng bất ổn xung quanh vấn đề Brexit và căng thẳng thương mại toàn cầu. Nỗi lo về sự suy giảm kinh tế ở châu Âu càng thêm trầm trọng sau khi chính phủ Mỹ đe dọa sẽ áp thuế đối với 4 tỷ USD hàng hóa khác của khu vực đồng euro liên quan đến tranh chấp kéo dài về trợ cấp máy bay…

Theo John Higgins – Nhà kinh tế thị trường trưởng của Capital Economic, mặc dù lợi suất trái phiếu tại khu vực EU đang ở mức thấp kỷ lục, nhưng vẫn có khả năng sẽ còn giảm thêm. Ông kỳ vọng rằng ECB sẽ cắt giảm lãi suất tiền gửi khoảng 10 điểm cơ bản xuống mức -0,5% trong tháng 9 và sẽ thông báo việc tiếp tục chương trình mua lại tài sản vào tháng 10, mặc dù không xem đây là gói nới lỏng định lượng (QE).

Các chuyên gia phân tích của Capital Economics cũng dự báo rằng, lợi suất trái phiếu 10 năm sẽ giảm xuống khoảng -0,5%  vào cuối năm và quy mô giảm tương tự sẽ xuất hiện trên các trái phiếu chính phủ quan trọng khác của khu vực đồng EU.

Không chỉ tại châu Âu, lợi suất trái phiếu 10 năm của Mỹ cũng đã giảm trở lại xuống dưới 2%, giao dịch ở mức 1,9532% trong tuần trước bất chấp việc Mỹ và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận tạm thời đình chiến để tiếp tục đàm phán.

Trong khi đó, hiện Fed đang phải đối đầu với rất nhiều vấn đề, như tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang chậm lại, lạm phát vẫn tiếp tục suy giảm, không đạt được mục tiêu 2% và việc phân chia lại thuế quan giữa Mỹ và các đối tác thương mại, đặc biệt là Trung Quốc. Thực tế đó khiến cho các chuyên gia phân tích dự báo rằng Fed sẽ có 2 lần cắt giảm lãi suất từ nay đến cuối năm. Chủ tịch của Fed Jerome Powell cũng đã công bố rằng sẽ có ít nhất là một lần cắt giảm lãi suất nếu điều kiện kinh tế trở nên xấu hơn. Mới đây, Chủ tịch ECB Mario Draghi cũng gợi ý về việc nới lỏng tiền tệ nếu lạm phát của khu vực EU vẫn tiếp tục yếu ớt. Như vậy cả 2 NHTW lớn này đều đang phải đối mặt với kỳ vọng lạm phát, tăng trưởng thấp và những bất ổn địa chính trị.

Tính đến thời điểm hiện tại, các nền kinh tế lớn đều cắt giảm dự báo tăng trưởng so với đầu năm. Trong đó, khu vực châu Âu phụ thuộc mạnh mẽ vào hoạt động xuất khẩu, nhưng nền kinh tế đầu tàu trong việc cung cấp các sản phẩm động cơ xuất khẩu là Đức đang suy yếu nghiêm trọng, Ý đang bước vào chu kỳ suy thoái, sự bế tắc của Brexit, cùng với căng thẳng thương mại Mỹ - Trung leo thang đã làm gia tăng nỗi lo ngại của các nhà đầu tư. Bằng chứng là thị trường đã dao động mạnh trong tháng 5 khi những căng thẳng gia tăng trong mối quan hệ Mỹ-Trung đã dẫn đến sự bán tháo nhanh chóng các tài sản rủi ro.

Trong tháng 6/2019 vừa qua, Ngân hàng Thế giới (WB) đã cắt giảm dự báo tăng trưởng, trong đó tăng trưởng thương mại đầu tư, tăng trưởng tiền lương và lạm phát đều suy giảm so với đầu năm 2019.

Roger Jones - Quản lý bộ phận kinh doanh cổ phiếu tại London & Capital cho rằng, việc chi phí vốn đang giảm xuống sẽ là nguyên nhân dẫn đến việc các thị trường sẽ định giá lại tài sản. Thực tế này có thể sẽ diễn ra mạnh hơn khi các nhà đầu tư luôn tìm câu trả lời cho câu hỏi về tỷ lệ lãi suất trung lập sẽ là bao nhiêu. Thị trường chứng khoán sẽ nhanh chóng bị ảnh hưởng bởi sự suy giảm của tăng trưởng, điều này có thể dẫn đến sự đảo ngược trong mối quan hệ tích cực giữa trái phiếu và cổ phiếu.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.504 26.349 27.824 28.270 214,53 224,49
BIDV 23.145 23.265 25.505 26.232 27.823 28.303 215,02 220,49
VietinBank 23.135 23.265 25.492 26.287 27.766 28.406 214,71 220,71
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.508 25.861 27.918 28.304 215,89 218,87
ACB 23.135 23.255 25.521 25.873 27.998 28.312 215,99 218,96
Sacombank 23.103 23.263 25.518 25.977 27.950 28.352 215,12 219,68
Techcombank 23.135 23.275 25.282 26.280 27.611 28.505 214,47 221,74
LienVietPostBank 23.140 23.260 25.469 26.943 27.981 28.405 216,19 220,21
DongA Bank 23.230 23.320 25.980 26.220 28.070 29.350 214,60 220,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.100
41.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.100
41.450
Vàng SJC 5c
41.100
41.470
Vàng nhẫn 9999
41.100
41.600
Vàng nữ trang 9999
40.650
41.450