07:35 | 19/12/2013

Mô hình hợp tác xã – doanh nghiệp

Nghị định 193/2013/NĐ-CP được ban hành sẽ giúp hình thành các mô hình HTX nông nghiệp kiểu mới, thay thế các HTX truyền thống để chuyên sâu vào các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường. Đây cũng chính là chìa khóa để tăng cường liên kết 4 nhà trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa, tạo ra hiệu quả thiết thực cho đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp trong các năm tới.

Theo dự thảo Chương trình Hỗ trợ phát triển hợp tác xã (HTX) giai đoạn 2013-2018 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong tổng số gần 9.000 tỷ đồng phục vụ phát triển các loại hình kinh tế tập thể giai đoạn này sẽ có khoảng 6.130 tỷ đồng được dành riêng để hỗ trợ các HTX nông nghiệp trong việc đầu tư kết cấu hạ tầng, chế biến sản phẩm và hỗ trợ vốn, giống khi gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh.


Ảnh minh họa

Những số liệu trên mặc dù chưa được Chính phủ chính thức thông qua nhưng cũng có thể xem là một tín hiệu vui đối với gần 9.000 HTX và gần 100 ngàn tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn cả nước. Bởi tính đến nay, mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn chưa được giải quyết triệt để nhưng với việc ban hành Nghị định 193/2013/NĐ-CP (NĐ 193), có hiệu lực từ ngày 27/1/2014, Chính phủ đã khẳng định rõ vai trò quan trọng của việc phát triển các HTX, đồng thời dành sự ưu đãi đặc biệt đối với các tổ chức kinh tế tập thể hoạt động trong lĩnh vực “tam nông”.

Nhìn vào thực tế có thể thấy, nhiều năm nay nguyên nhân khiến các HTX nông nghiệp rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng là do thiếu vốn và chưa có nhân lực chuyên trách. Theo thống kê năm 2011 của Liên minh HTX Việt Nam, trong tổng số hơn 8.500 HTX nông nghiệp trên địa bàn cả nước thì có tới gần 6.100 HTX hoạt động ở mức trung bình và yếu kém.

Nguồn vốn hoạt động của các HTX chỉ có khoảng 996 triệu đồng và lãi bình quân chỉ đạt 60-70 triệu đồng/HTX/năm. Hầu hết các HTX vướng vào tình trạng nguồn vốn quá mỏng, trong khi đó tài sản thế chấp và phương án sản xuất kinh doanh cũng thường không đủ lớn và đủ sức thuyết phục để các TCTD giải ngân cho vay. Vì thế ngay cả khi Chính phủ đã ban hành Nghị định 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thì sau hơn 3 năm cũng có ít HTX nông nghiệp tiếp cận được các nguồn vốn hỗ trợ.

Nhiều HTX nông nghiệp ở các địa phương, nhất là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, sau khi xây dựng thành công các mô hình sản xuất nông nghiệp an toàn theo quy trình VietGAP, GlobalGAP cũng lâm vào tình trạng cạn vốn và phải chấp nhận ngưng hoạt động để xã viên chuyển ra ngoài làm ăn riêng lẻ.

Tuy nhiên, với việc ban hành NĐ 193 vừa qua, những nút thắt về vốn và nhân lực cho HTX nông nghiệp bắt đầu đã được quan tâm, tháo gỡ. Cụ thể, theo những quy định tại điều 24 và 25 của Nghị định, các HTX nông nghiệp sẽ được Nhà nước hỗ trợ đào tạo chính quy về chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ chủ chốt. Song song đó, tất cả các hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng như xây dựng trụ sở, sân phơi, nhà kho, xưởng sơ chế… cũng sẽ được Nhà nước dành các khoản tín dụng hỗ trợ.

Khoản hỗ trợ này, theo dự thảo Chương trình Hỗ trợ phát triển HTX giai đoạn 2013-2018 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, là khoản hỗ trợ lớn nhất - khoảng hơn 5.800 tỷ đồng, trong 5 năm. Như vậy có thể thấy rằng, hạ tầng và công nghệ chế biến sản phẩm nông sản của các HTX nông nghiệp đang là mối quan tâm lớn được Chính phủ chỉ đạo các bộ ngành đẩy mạnh thực hiện.

Một điểm mới đáng chú ý khác là trong NĐ 193, những nội dung liên quan đến việc góp vốn, mua cổ phần, thành lập DN của các HTX được Chính phủ quy định rất cụ thể. Theo đó, các HTX sẽ được dành tối đa 50% vốn điều lệ của mình để đầu tư góp vốn, mua cổ phần, thành lập DN. Như vậy, nếu làm ăn có hiệu quả các HTX nông nghiệp có thể chuyển thành những “công ty cổ phần” đa ngành nghề. Dưới HTX sẽ có các đơn vị trực thuộc như trung tâm dịch vụ, chuyên sửa chữa, cung ứng dịch vụ máy móc, thiết bị, nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, tư vấn chuyển giao khoa học kỹ thuật…

Việc làm này sẽ hình thành các mô hình HTX nông nghiệp kiểu mới, thay thế các HTX truyền thống để chuyên sâu vào các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường. Đây cũng chính là chìa khóa để tăng cường liên kết 4 nhà trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa, tạo ra hiệu quả thiết thực cho đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp trong các năm tới.

Thạch Bình

Nguồn :

Ngân hàng
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
1,00 %
1,00 %
-
4,00 %
4,50 %
4,90 %
5,30 %
5,40 %
6,00 %
6,20 %
BIDV
-
-
-
4 %
4,5 %
5 %
5,3 %
5,4 %
6,8 %
6,3 %
VietinBank
1,00 %
1,00 %
1,00 %
4,50 %
4,50 %
5,00 %
5,50 %
5,50 %
-
-
Eximbank
1,00 %
1,00 %
1,00 %
4,70 %
4,80 %
4,90 %
5,40 %
5,60 %
6,10 %
7,20 %
ACB
1,00 %
1,00 %
1,00 %
4,6 %
4,6 %
4,8 %
5,5 %
5,7 %
6,1 %
6,30 %
Sacombank
-
-
-
4,7 %
4,75 %
4,9 %
5,45 %
5,50 %
6,00 %
-
Techcombank
0.50%
0.50%
0.50%
4,6 %
4,75 %
4,85 %
5,25 %
5,5 %
6,15 %
6,46 %
LienVietPostBank
1,00 %
1,00 %
1,00 %
4 %
4,5 %
5 %
5,3 %
5,4 %
6,30%
6,8 %
DongA Bank
0,50 %
0,55 %
0,60 %
4,8 %
5 %
5 %
5,9 %
6,1 %
7,00%
7,5 %

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 21.315 21.375 23.995 24.284 31.800 32.311 173,47 181,00
BIDV 21.320 21.370 24.007 24.283 31.849 32.320 178,62 181,46
VietinBank 21.310 21.370 24.009 24.272 31.823 32.304 178,64 181,29
Agribank 21.305 21.375 23.935 24.328 31.814 32.341 178,55 181,56
Eximbank 21.300 21.370 24.005 24.290 31.944 32.323 179,29 181,42
ACB 21.300 21.370 24.022 24.307 32.028 32.327 179,68 181,81
Sacombank 21.300 21.380 23.987 24.335 31.845 32.329 179,43 181,86
Techcombank 21.300 21.380 23.683 24.482 31.634 32.384 178,32 182,10
LienVietPostBank 21.300 21.380 23.774 24.290 32.003 32.348 177,29 181,52
DongA Bank 21.315 21.370 24.030 24.250 31.980 32.260 179,40 181,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
35.220
35.340
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
35.220
35.320
Vàng SJC 5c
35.220
35.340
Vàng nhẫn 9999
32.970
33.270
Vàng nữ trang 9999
32.570
33.270