16:36 | 21/02/2019

Mua 4 tỷ USD: Nhất cử lưỡng tiện

Thậm chí giá mua – bán USD tại các ngân hàng còn liên tục giảm, trái ngược hẳn với nhiều năm trước đây là thị trường ngoại hối thường “nổi sóng”, tỷ giá tăng trong giai đoạn cận Tết Nguyên đán.

Tỷ giá tính chéo của VND với một số ngoại tệ từ 21/2/2019 đến 27/2/2019
Tỷ giá ngày 21/2: Tiếp tục đi ngang

Có được điều này là do hội tụ khá nhiều yếu tố thuận lợi cả trong và ngoài nước. Bên ngoài, việc Fed phát đi tín hiệu sẽ “kiên nhẫn” đối với việc tăng lãi suất, cộng thêm việc kinh tế toàn cầu và kinh tế Mỹ chậm lại, đã khiến đồng USD trên thị trường thế giới quay đầu giảm khá mạnh, qua đó giảm bớt áp lực đến tỷ giá trong nước.

Ảnh minh họa

Trong khi trong nước, nguồn cung ngoại tệ trong nước khá dồi dào khi mà năm 2018 cán cân thương mại thặng dư kỷ lục 6,8 tỷ USD và tiếp tục thặng dư hơn 800 triệu USD trong tháng đầu năm 2019. Giải ngân vốn FDI cũng vẫn duy trì được tốc độ tăng khá, đạt 1,55 tỷ USD trong tháng đầu năm sau khi đã có 19,1 tỷ USD vốn FDI được giải ngân trong năm qua; chưa kể vốn đầu tư nước ngoài chảy vào thông qua hoạt động góp vốn, mua cổ phần; giải ngân vốn ODA… Đặc biệt, thời điểm cận Tết Nguyên đán cũng là giai đoạn cao trào của kiều hối chuyển về nước.

Tuy nhiên, bên cạnh các yếu tố thuận lợi nói trên, không thể không nói tới vai trò điều hành của NHNN. Theo đó, một mặt cơ quan quản lý nâng dần tỷ giá trung tâm để hóa giải bớt các áp lực đã dồn tích trong năm qua khi mà VND chỉ giảm giá ở mức khá thấp so với mức tăng của đồng bạc xanh cũng như mức độ mất giá của nhiều đồng tiền trong khu vực, đặc biệt là nhân dân tệ.

Việc làm này cũng để đưa tỷ giá trung tâm về sát với tỷ giá thị trường hơn, qua đó nâng cao hiệu quả của công cụ tỷ giá trung tâm trong giai đoạn về sau. Việc làm này cũng góp phần xóa bỏ tâm lý kỳ vọng tỷ giá sẽ tăng mạnh, qua đó giảm thiểu tình trạng găm giữ ngoại tệ trong người dân, doanh nghiệp.

Mặt khác NHNN cũng tranh thủ thời cơ nguồn cung ngoại tệ trong nền kinh tế dồi dào để mua vào tăng dự trữ ngoại hối quốc gia. Theo đó, ngay ngày đầu tiên của năm 2019, NHNN đã tăng mạnh giá mua vào USD thêm 500 đồng lên 23.200 đồng, cao hơn khá nhiều so với mức giá mua USD trên thị trường của các ngân hàng thương mại, phát đi tín hiệu khuyến khích các nhà băng mua gom ngoại tệ bán lại cho NHNN. Nhờ đó, chỉ trong một thời gian khá ngắn, NHNN đã mua thêm được tới 4 tỷ USD cho dự trữ ngoại hối, một con số rất ấn tượng nếu so với 6 tỷ USD mà cơ quan này đã mua trong năm 2018.

Dự trữ ngoại hối tăng không chỉ giúp cho nền kinh tế có được một “bộ đệm” tốt để chống đỡ với các cú sốc từ bên ngoài mà nó còn nâng cao uy tín, vị thế của quốc gia trên trường quốc tế cũng như trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Việc Việt Nam liên tục được các cơ quan xếp hạng tín nhiệm quốc tế nâng hạng trong năm qua một phần cũng nhờ dự trữ ngoại hối của Việt Nam tăng mạnh trong năm trước đó.

Một minh chứng khác đó là dòng vốn nước ngoài vẫn chảy mạnh vào Việt Nam trong năm qua, qua cả kênh trực tiếp và gián tiếp, cho dù dòng vốn nước ngoài đang rút mạnh khỏi nhiều thị trường mới nổi khác. Tỷ giá ổn định còn khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu ngay trong tháng đầu năm với kim ngạch đạt gần 22,08 tỷ USD, tăng 12,4% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước.

Quay trở lại với động thái mua vào ngoại tệ của NHNN, với việc mua vào 4 tỷ USD, ước tính đã có khoảng hơn 93.000 tỷ đồng được bơm ra thị trường. Lượng tiền này đã hỗ trợ tích cực cho thanh khoản của các ngân hàng trong dịp cận Tết vốn là mùa cao điểm về thanh khoản, qua đó giúp các nhà băng duy trì ổn định mặt bằng lãi suất.

Quả là “nhất cử, lưỡng tiện” và với bối cảnh hiện tại, SSI dự báo, lãi suất huy động các tháng tới có thể được duy trì ổn định ở mức hiện tại, thậm chí có thể giảm.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.230 23.350 26.151 26.915 29.358 29.828 213,84 222,61
BIDV 23.225 23.345 26.286 27.035 29.371 29.874 214,10 219,52
VietinBank 23.212 23.342 26.255 26.990 29.290 29.930 214,21 220,71
Agribank 23.245 23.345 26.076 26.474 29.280 29.761 214,44 218,35
Eximbank 23.220 23.330 26.292 26.655 29.467 29.874 215,08 218,05
ACB 23.210 23.330 26.284 26.645 29.508 29.838 214,96 21791
Sacombank 23.184 23.336 26.293 27.050 29.455 29.859 214,24 218,80
Techcombank 23.210 23.350 26.044 26.909 29.111 29.992 21368 221,01
LienVietPostBank 23.210 23.330 26.218 26.748 29.458 29.853 214,54 218,94
DongA Bank 23.240 23.330 26.320 26.640 29.460 29.840 211,60 217,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
38.450
38.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
38.450
38.700
Vàng SJC 5c
38.450
38.720
Vàng nhẫn 9999
38.430
38.930
Vàng nữ trang 9999
37.900
38.700