13:00 | 13/11/2019

Muốn thúc đẩy tăng trưởng xanh, phải đồng bộ các giải pháp

Tăng trưởng xanh và phát triển bền vững ngày nay được coi là vấn đề cốt yếu của tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng. Trong nền kinh tế, hệ thống ngân hàng là một mắt xích quan trọng, đóng vai trò chiến lược trong tiến trình phát triển bền vững. 

Chính sách tín dụng hướng tới tăng trưởng xanh
Tăng trưởng xanh: Vốn ngân hàng xây dựng tương lai bền vững
TS. Nguyễn Quốc Hùng

Đó là đánh giá của TS. Nguyễn Quốc Hùng - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) khi trao đổi với phóng viên Thời báo Ngân hàng.

Ngành Ngân hàng đã có quyết sách gì để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh, tạo động lực kinh tế phát triển bền vững, thưa ông?

Nhận thức tầm quan trọng của tăng trưởng và phát triển bền vững, để triển khai nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 -2010, năm 2015, Thống đốc đã ban hành Chỉ thị số 03/CT - NHNN về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội (MT - XH) trong hoạt động cấp tín dụng; kế hoạch hành động của ngành Ngân hành thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng tín dụng xanh đến năm 2020.

Đặc biệt, NHNN thể hiện rõ trách nhiệm cũng như quyết tâm khi đã lồng ghép nội dung về định hướng phát triển tín dụng xanh – ngân hàng xanh vào nội dung Chiến lược Phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030...

Tháng 8/2018, NHNN đã phối hợp với IFC ban hành Sổ tay hướng dẫn đánh giá rủi ro MT - XH trong hoạt động cấp tín dụng cho 10 ngành kinh tế. Để hỗ trợ các TCTD triển khai chính sách tín dụng xanh một cách toàn diện, trên cơ sở thành công của cuốn sổ tay đã ban hành, mới đây, NHNN tiếp tục phối hợp với IFC ban hành Hướng dẫn đánh giá rủi ro MT - XH đối với 5 ngành kinh tế nữa gồm sản xuất nhiệt điện, sản xuất giấy và bột giấy, nhuộm vải, chế biến thủy sản, pin và sắc quy.

Đây sẽ là “cẩm nang” giúp các TCTD nhận diện và chủ động quản lý các rủi ro MT - XH có thể gây tác động xấu, ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án được cấp tín dụng cũng như khả năng trả nợ của khách hàng. Từ đó giúp các TCTD giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng.

Song song với việc ban hành các chính sách liên quan đến tín dụng xanh, NHNN đã xây dựng và triển khai các chương trình tín dụng đặc thù góp phần sử dụng tài nguyên tiết kiệm, có hiệu quả, tăng trưởng xanh…

Những giải pháp trên đã mang lại kết quả ra sao đối với tín dụng xanh, thưa ông?

Với nỗ lực của NHNN và các TCTD trong việc đưa chính sách tín dụng xanh vào thực tiễn, hoạt động tín dụng xanh đã có những chuyển biến tích cực. Tính đến hết tháng 6/2019, dư nợ tín dụng đối với các dự án xanh đạt khoảng 317.600 tỷ đồng, tăng 32% so với năm 2018. Lãi suất cho vay các lĩnh vực xanh khá ưu đãi vay ngắn hạn là 5-8%/năm, trung - dài hạn là 9-12%/năm. Dư nợ tín dụng xanh chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp xanh, chiếm 45% tổng dư nợ tín dụng xanh; năng lượng tái tạo, năng lượng sạch chiếm 17%...

Ngoài ra, qua khảo sát của NHNN sự hiểu biết của các TCTD về tín dụng xanh đã được cải thiện đáng kể. Cụ thể, đã có 17 TCTD áp dụng khi đánh giá các rủi ro MT - XH trong hồ sơ thẩm định tín dụng các dự án, phương án kinh doanh của khách hàng; 19 TCTD đã xây dựng chiến lược quản lý rủi ro MT - XH. 10 TCTD đã xây dựng các sản phẩm tín dụng, dịch vụ ngân hàng cho các ngành/lĩnh vực xanh và đã quan tâm dành nguồn vốn huy động của ngân hàng để cấp tín dụng cho các lĩnh vực này với kỳ hạn chủ yếu là trung, dài hạn và có sự ưu đãi về lãi suất cho các dự án xanh…

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động tín dụng – ngân hàng xanh góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường hiện nay còn gặp một số khó khăn khiến cho cả ngân hàng lẫn khách hàng vẫn e ngại với tín dụng xanh.

Tuy nhiên việc đầu tư vào các ngành/lĩnh vực xanh, nhất là lĩnh vực năng lượng tái tạo, tiết kiệm và hiệu quả năng lượng tại Việt Nam hiện nay thường đòi hỏi thời gian hoàn vốn dài, chi phí đầu tư lớn, rủi ro thị trường cao nên rất cần các ưu đãi về thời hạn và chi phí vốn vay. Trong khi nguồn vốn huy động của các TCTD thường là ngắn hạn, huy động theo chi phí vốn thương mại trên thị trường. Do đó, để có thể cung cấp các khoản tín dụng ưu đãi cho các ngành, lĩnh vực xanh, các TCTD cần được hỗ trợ tiếp cận các nguồn vốn dài hạn, ưu đãi hoặc có cơ chế chia sẻ lãi suất cho vay với các TCTD.

Đối với bất kỳ lĩnh vực ngành nghề nào để phát triển bền vững đòi hỏi đồng bộ các giải pháp, nhất là lĩnh vực mới như kinh tế xanh. Do vậy, để phát triển ngành kinh tế xanh cần đồng bộ các giải pháp, cơ chế từ chính sách thuế, phí, vốn, kỹ thuật, thị trường, đến quy hoạch, chiến lược phát triển của từng ngành, lĩnh vực. Trên cơ sở đó mới thu hút và phát huy được tác dụng của nguồn vốn tín dụng xanh.

Vậy NHNN sẽ có định hướng chính sách ra sao để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh trong thời gian tới?

Trên cơ sở bám sát các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh, NHNN tiếp tục thực thi các chính sách tín dụng nhằm thúc đẩy hoạt động của ngành Ngân hàng hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh.

Thứ nhất, NHNN tiếp tục xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý hướng dẫn thực hiện tín dụng xanh cho các TCTD. Trong đó đưa ra các tiêu chuẩn về tín dụng xanh, danh mục các ngành/lĩnh vực xanh để áp dụng chung, thống nhất, làm cơ sở để các TCTD lựa chọn, thẩm định, đánh giá và giám sát khi thực hiện cấp tín dụng xanh.

Thứ hai, NHNN sẽ tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hướng dẫn đánh giá rủi ro MT- XH cho một số ngành chưa có hướng dẫn trong hoạt động cấp tín dụng của các TCTD.

Thứ ba, xây dựng các giải pháp tập trung nguồn lực để cấp tín dụng cho các dự án, phương án sản xuất kinh doanh sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến; sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả...

Thứ tư, tiếp tục huy động các nguồn lực để thực hiện chính sách tín dụng xanh tại Việt Nam, bao gồm: nguồn ngân sách nhà nước, nguồn vốn ưu đãi dài hạn từ các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IFC..., huy động vốn qua hình thức phát hành trái phiếu xanh để tài trợ các dự án năng lượng tái tạo quy mô lớn, tiết kiệm năng lượng.

Tuy nhiên như nói ở trên, để triển khai hiệu quả kế hoạch hành động của Chính phủ thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh cần có sự vào cuộc của các bộ ngành liên quan, đến chính quyền địa phương chứ chỉ riêng ngành Ngân hàng không thể làm được dù rất muốn. Vốn ngân hàng không thiếu, vấn đề là phải có dự án hiệu quả đảm bảo khả năng thu hồi vốn.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.370
41.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.370
41.590
Vàng SJC 5c
41.370
41.610
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.760
Vàng nữ trang 9999
40.790
41.590